|
Enron, một công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ phá sản kéo theo công ty
tư vấn kt hàng đầu thế giới Arthurr Andersen sụp đổ. Đây chỉ là một
minh chứng sống động của sự thất bại trong ngành kiểm toán Mỹ. Sai lầm
của ngành kiểm toán Mỹ chủ yếu là do nhân viên kiểm toán (CPA) và các
DN bị kiểm toán “ăn rơ” cùng nhau. Các CPA vốn là những người thiếu
tính độc lập và ngay chính bản thân họ cũng không biết giữ tính thận
trọng trong khi tác nghiệp và cả sự hoài nghi cần thiết.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Ấn Độ là quốc gia có số dân đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Trung Quốc và
từ năm 2000, Chính phủ Ấn Độ đã tập trung vào các kế hoạch và chính
sách Công nghệ thông tin (CNTT) quốc gia để hỗ trợ Chính phủ điện tử.
Là một quốc gia rộng lớn với 29 bang, các sáng kiến về Chính phủ điện
tử đã được thực thi ở cấp chính quyền tiểu bang như cung cấp dịch vụ
Chính phủ điện tử, triển khai hệ thống CNTT, giúp đỡ các vùng nông thôn
đẩy mạnh truy cập Internet và xóa mù tin học.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Có rất nhiều người đặt câu hỏi về sự khác biệt giữa IAS (Chuẩn mực kế
toán quốc tế) và IFRS (Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế). Sự
khác biệt đầu tiên ai cũng có thể nhận thấy đó là người ta đã thay chữ
A (Accounting – Kế toán) sang chữ FR (Financial Reporting- Lập Báo cáo
tài chính). Sự thay đổi này nghe cố vẻ đơn giản nhưng thực sự là một
bước đột phá và không chỉ thuần túy về từ ngữ mà bản chất là một sự
thay đổi lớn về tư duy kế toán.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Qua hơn một trăm năm hình thành và phát triển, ngày nay bộ máy tổ chức
của cơ quan Tổng Kiểm soát và Kiểm tóan Ấn Độ (CAG) được kết cấu thành
hai khối chính, khối trung ương và khối các văn phòng thực địa. Khối
trung ương thực hiện chức năng định hướng, chính sách, chỉ đạo kiểm
soát; khối các văn phòng thực địa chia thành nhóm văn phòng kiểm toán
chính phủ trung ương, nhóm văn phòng kiểm toán bang, kế toán bang và
nhóm đào tạo.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Từ những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu cải tổ lại hệ thống kế toán của
mình. Đầu năm nay, Trung Quốc đã thực hiện một bước đột phá lớn nhất từ
trước tới nay khi Bộ Tài chính yêu cầu 1.200 công ty được niêm yết trên
các thị trường chứng khoán Thẩm Quyến và Thượng Hải phải áp dụng, với
một số ngoại lệ đặc biệt, các quy tắc tương tự như các Chuẩn mực quốc
tế về báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Các chuẩn mực này có vẻ là
những quy định quá khắt khe về kế toán, nhưng các quốc gia trên khắp
thế giới đều đang tuân thủ theo các chuẩn mực này.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Kiểm toán các công trình công cộng là một loại hình kiểm toán do Uỷ ban
Kiểm toán nhật Bản tiến hành. Tương tự như kiểm toán các chương trình
khác của Chính phủ, kiểm toán các công trình công cộng alf hoạt động
kiểm toán tính tuân thủ, tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực
của các công trình do các tổ chứcm đơn vị thuộc chính phủ thực hiện.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 25 (VAS 25) - Báo cáo tài chính hợp nhất
và kế toán khoản đầu tư vào công ty con (được ban hành kèm theo Quyết
định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về
việc ban hành và công bố 06 chuẩn mực kế toán đợt 3) đã quy định những
vấn đề cơ bản nhất về lập báo cáo tài chính hợp nhất (BCTCHN).
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, sản phẩm (SP) của doanh nghiệp
không chỉ để bán cho các khách hàng độc lập mà còn được chuyển giao cho
các công ty con hoặc các công ty liên doanh mà doanh nghiệp có một phần
sở hữu, gọi là SP chuyển giao nội bộ. Việc định giá những SP này được
gọi là định giá chuyển giao nội bộ (Transfer Prices). Về lý thuyết,
việc định giá chuyển giao nội bộ quốc tế cũng giống như việc định giá
chuyển giao nội bộ trong nước. Tuy nhiên, kỹ thuật định giá chuyển giao
quốc tế phức tạp hơn nhiều so với trong nước do quá trình ra quyết định
chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố quan trọng và khó xác định.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Khi doanh nghiệp áp dụng chính sách bán hàng tín dụng nhằm mục đích
tăng doanh thu và lợi nhuận thì doanh nghiệp phải chấp nhận một sự rủi
ro nhất định đối với các khoản phải thu khách hàng.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
|
Theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Mỹ thì: Hàng tồn kho là toàn bộ số hàng mà doanh nghiệp mua về và dự trữ để bán bao gồm cả hàng mua đang đi đường, hàng đã bán nhưng chưa giao, hàng đang gửi, hàng hoá cũ hư hỏng có thể bán được.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
|
|
<< Bắt đầu < Trước 1 2 Tiếp > Cuối >>
|
| Kết quả 1 - 20 / 28 |