Chỉ nhắc đến cụm từ này cũng đủ để rộ lên tin
đồn và lời bàn tán trong giới tài chinh kinh tế, đặc biệt trong kỷ nguyên về
khủng hoảng tín dụng toàn cầu chưa từng có trong lịch sử kể từ cuộc khủng hoảng
cho vay và tiết kiệm vào thập niên 1990. Sự sụp đổ của Bear Stearns và IndyMac
cộng hưởng với làn sóng suy giảm lớn về bảng cân đối kế toán (CĐKT) ngân hàng
phố Wall hoàn toàn là chủ đề doanh nghiệp của năm 2008, và cùng với đó là kế toán
theo giá trị hợp lý.
Mặc
dù Bộ Taì chính và các ngành chức năng liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp
lý liên quan đến giải thể doanh nghiệp nhưng những vấn đề cụ thể về kế toán vẫn
chưa được đề cập đến trong chế độ kế toán cũng như các quyết định, thông tư
liên quan.
Sáp nhập là hiện tượng phổ biến xuất hiện cùng
với sự cạnh tranh khi một số các doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn sáp nhập với nhau
để gia tăng vốn và sức mạnh công nghệ chống lại sức cạnh tranh bão táp của thị
trường. Thực trạng kế toán sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
còn tồn tại những vướng mắc chưa được tháo gỡ.
Sơ lược những lý thuyết kinh tế của John Maynard Keynes. Khủng hoảng kinh tế, là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế. Biểu hiện của nó là sự suy giảm tổng cầu, tỷ suất lợi nhuận, kim ngạch xuất khẩu và sự gia tăng thất nghiệp trong nền kinh tế, dẫn đến tốc độ tăng trưởng giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đến toàn bộ các chỉ tiêu kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Thực tế ở Cộng hòa Pháp cho thấy bên cạnh hệ thống thanh tra
tài chính và sự giám sát chi tiêu ngân sách tại chỗ của Bộ tài chính với mỗi
Bộ, ngành (cử cán bộ chuyên trách giám sát tại chỗ) sự hiện diện và hoạt động
của Tòa thẩm kế đã tạo nên một hệ thống kiểm soát liên hoàn và chặt chẽ việc
chi tiêu ngân sách Nhà nước theo đạo luật Ngân sách được duyệt hàng năm. Sự
kiểm soát này vừa bảo vệ người làm đúng (thông qua các phán quyết miễn trách)
vừa trừng phạt kịp thời những người vi phạm để bảo toàn công quỹ và đặc biệt,
việc làm đó có ý nghĩa ngăn chặn và phòng ngừa những hành vi sai phạm...
Nghiên cứu của chúng tôi khuyến nghị rằng thất bại trong việc
đồng bộ hóa ba mục tiêu chiến lược chính là nguyên do chủ chốt khiến
cho nhiều sáng kiến tạo lập thị trường không thể trở thành ngành kinh
doanh bền vững.
Enron, một công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ phá sản kéo theo công ty
tư vấn kt hàng đầu thế giới Arthurr Andersen sụp đổ. Đây chỉ là một
minh chứng sống động của sự thất bại trong ngành kiểm toán Mỹ. Sai lầm
của ngành kiểm toán Mỹ chủ yếu là do nhân viên kiểm toán (CPA) và các
DN bị kiểm toán “ăn rơ” cùng nhau. Các CPA vốn là những người thiếu
tính độc lập và ngay chính bản thân họ cũng không biết giữ tính thận
trọng trong khi tác nghiệp và cả sự hoài nghi cần thiết.
Ấn Độ là quốc gia có số dân đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Trung Quốc và
từ năm 2000, Chính phủ Ấn Độ đã tập trung vào các kế hoạch và chính
sách Công nghệ thông tin (CNTT) quốc gia để hỗ trợ Chính phủ điện tử.
Là một quốc gia rộng lớn với 29 bang, các sáng kiến về Chính phủ điện
tử đã được thực thi ở cấp chính quyền tiểu bang như cung cấp dịch vụ
Chính phủ điện tử, triển khai hệ thống CNTT, giúp đỡ các vùng nông thôn
đẩy mạnh truy cập Internet và xóa mù tin học.
Có rất nhiều người đặt câu hỏi về sự khác biệt giữa IAS (Chuẩn mực kế
toán quốc tế) và IFRS (Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế). Sự
khác biệt đầu tiên ai cũng có thể nhận thấy đó là người ta đã thay chữ
A (Accounting – Kế toán) sang chữ FR (Financial Reporting- Lập Báo cáo
tài chính). Sự thay đổi này nghe cố vẻ đơn giản nhưng thực sự là một
bước đột phá và không chỉ thuần túy về từ ngữ mà bản chất là một sự
thay đổi lớn về tư duy kế toán.
Qua hơn một trăm năm hình thành và phát triển, ngày nay bộ máy tổ chức
của cơ quan Tổng Kiểm soát và Kiểm tóan Ấn Độ (CAG) được kết cấu thành
hai khối chính, khối trung ương và khối các văn phòng thực địa. Khối
trung ương thực hiện chức năng định hướng, chính sách, chỉ đạo kiểm
soát; khối các văn phòng thực địa chia thành nhóm văn phòng kiểm toán
chính phủ trung ương, nhóm văn phòng kiểm toán bang, kế toán bang và
nhóm đào tạo.