Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Bộ Tài chính: Làm rõ về vấn để tiền lương của lãnh đạo Tổng công ty SCIC và Jetstar Pacific Airlines
Ngân hàng Tiên Phong: Lãi suất cao nhất 10,45%/năm đối với VNĐ và 4,15%/năm đối với tiền gửi USD
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Kế toán Mỹ: Phương pháp đánh giá hàng tồn kho cuối niên độ kế toán
TCKT cập nhật: 23/11/2006

 Theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Mỹ thì: Hàng tồn kho là toàn bộ số hàng mà doanh nghiệp mua về và dự trữ để bán bao gồm cả hàng mua đang đi đường, hàng đã bán nhưng chưa giao, hàng đang gửi, hàng hoá cũ hư hỏng có thể bán được.

Phương pháp đánh giá giá trị hàng tồn kho vào cuối niên độ kế toán của Mỹ là đánh giá hàng tồn kho theo mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường (Valuing the Inventory at the Lower of Cost or Market - LCM).

Khi vận dụng mức giá thấp hơn của trị giá vốn hay giá thị trường đối với hàng hoá tồn kho, thì giá thị trường thường có nghĩa là trị giá vốn của hàng hoá thay thế. Điều này có nghĩa là giá mà công ty sẽ phải trả nếu công ty mua hàng hoá mới để thay thế số hàng hoá tồn kho.
Trên bảng cân đối kế toán hàng tồn kho có thể được đánh giá theo mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường theo yêu cầu của nguyên tắc thận trọng. Mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường có thể sử dụng cho hàng hoá tồn kho theo một trong hai cách. Thứ nhất, nó áp dụng cho từng loại hàng tồn kho, hoặc thứ hai, nó có thể áp dụng cho từng nhóm hàng. Để minh hoạ cho hai cách đánh giá này, giả sử hàng tồn kho của một công ty gồm có 5 mặt hàng được phân làm 2 nhóm.

- Nhóm 1 gồm 3 mặt hàng A, B và C.
- Nhóm 2 gồm 2 mặt hàng là D và E.

Việc đánh giá hàng tồn kho theo mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường được thực hiện như sau:

- Phương pháp đánh giá hàng hoá tồn kho theo từng mặt hàng:

Theo phương pháp này thì mức giá thấp hơn được xác định trên cơ sở so sánh giữa giá vốn và giá thị trường của từng mặt hàng. Hiện nay, chế độ kế toán Việt Nam đang sử dụng phương pháp này.



- Phương pháp đánh giá hàng hoá tồn kho theo nhóm hàng:

Theo phương pháp này mức giá thấp hơn được xác định trên cơ sở so sánh giữa giá vốn và giá thị trường của từng nhóm hàng.

Như vậy, 2 phương pháp đánh giá hàng tồn kho cuối niên độ kế toán khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau, doanh nghiệp có thể vận dụng một trong 2 phương pháp trên. Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng phương pháp đánh giá theo từng mặt hàng riêng biệt thì giá thị trường là 87.500, số dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần lập là 6.500 ( = 94.000 - 87.500). Trường hợp doanh nghiệp sử dụng phương pháp đánh giá theo nhóm hàng thì giá thị trường là 93.000, số dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần lập là 1.000 ( = 94.000 - 93.000).

Mức giá thấp hơn giữa trị giá vốn và giá thị trường cũng được sử dụng để đánh giá các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của công ty cho các loại chứng khoán thị trường. Tuy nhiên, trong trường hợp đó chỉ có một cách tính được phép sử dụng. Tổng trị giá vốn và tổng giá thị trường của toàn bộ tập hợp chứng khoán đầu tư được so sánh với nhau để xác định mức thấp nhất của trị giá vốn hay giá thị trường.

Hàng tồn kho không được đánh giá cao hơn giá trị thuần thực hiện được.

Quan điểm thị trường được định nghĩa như là trị giá vốn của hàng hoá thay thế có một trường hợp ngoại lệ quan trọng. Trường hợp ngoại lệ này là hàng tồn kho không được đánh giá cao hơn giá trị thuần thực hiện đựơc, là giá bán dự kiến trừ các chi phí phát sinh trước khi bán. Đôi khi giá trị thuần thực hiện được thấp hơn cả giá vốn của hàng hoá thay thế. Trong trường hợp này, hàng hoá chỉ được đánh giá không cao hơn giá trị thuần thực hiện được và phải phản ánh trên sổ kế toán giảm xuống mức giá này.

Giả sử hàng hoá được mua với giá 100, giá bán dự kiến là 130. Vào cuối niên độ kế toán, sự giảm giá chung của thị trường dẫn đến trị giá vốn hàng hoá thay thế là 90. Tuy nhiên, giả sử hàng hoá trên bị lỗi thời, hư hỏng; chi phí hoàn thiện trước khi bán là 5, dự kiến hàng hoá sau khi hoàn thiện được bán với giá 85. Như vậy, giá trị thuần thực hiện được là 85 (= 90 - 5 ). Do giá trị thuần thực hiện được (85) thấp hơn trị giá vốn của hàng hoá thay thế (90) nên hàng hoá phải được phản ánh trên sổ kế toán ở mức giá trị thuần thực hiện đựơc.
Hàng hoá tồn kho không được đánh giá ở mức thấp hơn giá trị thuần thực hiện được trừ đi số dư lợi nhuận bình thường.

Ngoại lệ thứ hai của quan điểm thị trường nghĩa là trị giá vốn hàng hoá thay thế không được phản ánh trên sổ kế toán thấp hơn mức giá trị thuần thực hiện được trừ đi số dư lợi nhuận bình thường.

Giả sử một công ty mua hàng với giá mua 70 và bán với giá 100, lãi gộp là 30 (= 100 - 70); tỷ lệ lãi gộp trên giá bán là 30% (= 30/100). Giả sử cuối niên độ kế toán giá bán giảm xuống còn 90, lãi gộp bình thường sẽ là 90 x 30% = 27. Do đó, hàng hoá tồn kho cuối niên độ kế toán không được đánh giá thấp hơn 90 - 27 = 63, cho dù giá vốn hàng hoá thay thế thấp hơn 63. Nếu hàng hoá tồn kho được phản ánh trên sổ kế toán ở mức thấp hơn 63 thì báo cáo thu nhập của năm hiện hành sẽ phản ánh một số lãi gộp thấp khác thường; và khi hàng hoá được bán với giá 90 trong kỳ tiếp theo thì báo cáo thu nhập sẽ phản ánh số lãi gộp cao khác thường.

Thạc sĩ Phạm Rin - Đại học Duy Tân
(Tapchiketoan.info)
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Kế toán
Thông tư 244/2009 mới sửa đổi chế độ kế toán doanh nghiệp
Chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính
Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Giải pháp đưa kế toán và kiểm toán Việt Nam ngang tầm khu vực quốc tế
Tăng cường công tác đăng ký và quản lý hành nghề kế toán
Kiểm toán
Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
Cần có Luật Kiểm toán độc lập
Những điều cần chú ý khi kiểm toán BCTC trong điều kiện kinh tế khủng hoảng
Từ 2010: DN sẽ phải đăng tải toàn văn BCTC kiểm toán
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Những giải pháp cơ bản về cơ chế giám sát thị trường tài chính Việt Nam nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Những giải pháp cơ bản về cơ chế giám sát thị trường tài chính Việt Nam nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Thuế - phí
Quy định mới về khấu trừ chi phí quảng cáo, tiếp thị: Cơ hội và thử thách đối với DN
Tìm hiểu về thuế trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp