Từ khi nước ta bắt đầu thực hiện đổi mới quản lý kinh tế từ cơ chế kế
hoạch sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, ngành ngân hàng nước ta
chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp
(ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng). Tổ chức tín dụng (TCTD)
là một DN kinh doanh tiền tệ theo phương châm "đi vay để cho vay" còn
ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam là đơn vị xây dựng hệ thống tài
khoản kế toán (HTTKKT) các TCTD. Sau khi được Bộ Tài chính đồng ý,
HTTKKT các TCTD mới có tính pháp quy.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Ở các nước phát triển, Luật Kế toán là căn cứ để ban hành các chuẩn mực kế toán. Nhưng ở Việt Nam thì ngược lại, vào ngày 31/12/2001, Bộ Tài chính ký Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ban hành và công bố 04 chuẩn mực kế toán đầu tiên của Việt Nam dựa trên cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế nhưng đến ngày 17/6/2003, Luật Kế toán Việt Nam mới được thông qua và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2004.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Xây dựng mô hình Tổng Kế toán Nhà nước và việc ban hành hệ thống chuẩn
mực kế toán công quốc gia đã được đề cập trong báo cáo tổng hợp của
cuộc hội thảo Định hướng và lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán công
quốc tế vào Việt Nam diễn ra hồi đầu tháng 4/2007 tại Hà Nội. Đây là
vấn đề thời sự của kế toán Việt Nam, thu hút sự quan tâm của nhiều
chuyên gia và cơ quan quản lý nhà nước. Nhưng xung quanh vấn đề này vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Các nước phát triển thường xây dựng một hệ thống kế toán mở, có nghĩa
là chỉ dựa trên các nguyên tắc cơ bản nhất và không có quy định chặt
chẽ nào cho từng tiểu khoản và từng lĩnh vực kinh doanh. Nhưng hệ thống
kế toán Việt Nam lại đi vào quy định chi tiết cho từng tiểu khoản cụ
thể và cho từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kế toán ngân hàng và
kế toán tài chính doanh nghiệp (DN).
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Thị trường tài chính đang có bước phát triển mạnh mẽ, mang lại
cho các DN, các tổ chức tài chính nhiều cơ hội vay và cho vay vốn. Bên
cạnh đó, sự biến động của lãi suát trên thị trường tài chính sẽ mang
đến cho các DN, các tổ chức tài chính sẽ mang đến cho các DN, các tổ
chức tài chính rủi ro lớn khi vay vốn đặc biệt là vay dài hạn. Để hạn
chế những rủi ro này, các DN khi vay vốn có thể sử dụng hd quyền chọn
lãi suất
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Phát hành trái phiếu ra công chúng thực sự là một kênh huy động vốn
hiệu quả, tiết kiệm, chi phí phát hành đối với các DN tại các nước có
thị trường vốn phát triển như Anh, Mỹ. Nhiều công ty cổ phần Việt Nam
hiện đang huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán nhưng chủ yếu
bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng mà chưa coi trọng đúng
mức việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngoại trừ một số
ngân hàng phát hành trái phiếu chuyển đổi.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Thông tư số 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 hướng dẫn thực hiện các
chuẩn mực kế toán ban hành đợt 2 quy định rất cụ thể, chi tiết về mẫu
biểu, nguyên tắc và phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
(BCLCTT). Tuy nhiên, đối với những người làm kế toán, BCLCTT vẫn còn
nhiều mới mẻ, phức tạp khi lập bởi vì trước đó, việc lập BCLCTT không
mang tính bắt buộc trong hệ thống Báo cáo tài chính của DN.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam giao thương mạnh
mẽ với nhiều DN nước ngoài. Lúc đó, việc sử dụng nhiều loại ngoại tệ
trong giao dịch ngày càng trở nên thường xuyên và cần thiết. Việt Nam
đã mở rộng biên độ tỷ giá hối đoái với đồng USD lên đến 0.5%, còn đối
với các đồng ngoại tệ khác lại không quy định biên độ tỷ giá. Đây sẽ là
nguyên nhân làm các DN Việt Nam gặp rủi ro do thay đổi tỷ giá khi sử
dụng ngoại tệ trong giao dịch thương mại quốc tế.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán (IAS Framework) được xem như các khái niệm
cơ bản nhất của BCTC, làm cơ sở cho các chuẩn mực kế toán (CMKT), bảm
đảm rằng các chuẩn mực này nhất quán với nhau. Khuôn mẫu lý thuyết kế
toán (KMLTKT) chính thức được đưa ra trong các năm 1978-1985 do Hội
đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa kỳ (FASB) dưới tên gọi là các công
bố về Lý thuyết Kế toán Tài chính. Đến năm 1989, KMLTKT được chuẩn hoá
thành IAS Framework. Từ đây, Uỷ ban IAS sử dụng IAS Framework làm cơ sở
để điều chỉnh lại các CMKT quốc tế đã ban hành trước đó, đồng thời, làm
cơ sở để ban hành các chuẩn mực kế toán mới sau này.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Trong hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006, có hai loại tài khoản (TK) phản ánh các
khoản dự phòng mà việc ghi tăng các khoản dự phòng này đều dãn đến việc
ghi nhận một khoản chi phí: các TK thuộc loại TK phản ánh tài sản có
chữ số tận cùng là 9 (TK 129, 139, 159, 229); và các TK thuộc loại TK
phản nợ phải trả có 2 chữ số đầu là 35 (TK 351, 352). Bài viết này nhằm
làm rõ bản chất của nội dung được phản ánh ở các loại TK dự phòng này.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
|
|
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 7 Tiếp > Cuối >>
|
| Kết quả 1 - 20 / 134 |