|
Trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác đinh thặng dư, thâm hụt thuần cho từng năm để có sự so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất. BCTC của từng quốc gia không phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế thì không thể so sánh và khó có thể có sự thừa nhận của quốc tế đối với quốc gia. Đây cũng là nội dung quan trọng mà tất cả các cam kết trong quá trình hội nhập các quốc gia phải tuân thủ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn nêu lên sự cần thiết của chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành các mối quan hệ quốc tế. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, cam kết với các tổ chức tài chính như ADB, WB, IMF…đòi hỏi Việt Nam phải cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và phải được quốc tế thừa nhận. Trong công tác quản lý điều hành tài chính Nhà nước, một mặt cần phải thực hiện công khai hoá, dân chủ hoá và các thông tin tài chính, kế toán phải chính xác, minh bạch đối với các hoạt động chỉ tiêu và đầu tư của nhà nước, mặt khác phải có những nét đặc thù của tài chính ngân sách Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về kế toán, kiểm toán nói riêng. Trong đó, đã đưa ra các quy định pháp lí để đảm bảo việc quản lý chi tiêu trong lĩnh vực công hiệu quả hơn và tạo dựng một môi trường thuận lợi hơn cho các hoạt động trong lĩnh vực công. Tuy nhiên, các thông tin tài chính, kế toán hiện hành trong lĩnh vực này cho thấy chưa có sự nhất quán giữa các hệ thống kế toán hiện nay. Lĩnh vực công của Việt Nam xét trên bình diện tổng thể vẫn chưa đầy đủ, hoàn chỉnh, chưa phù hợp với yêu cầu và thông lệ quốc tế.
Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) ban hành kèm theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được xây dựng và ban hành trên cơ sở Luật Ngân sách, Luật Kế toán và các chính sách tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chế độ kế toán HCSN, Việt Nam chưa tham khảo chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế nên còn nhiều điểm khác biệt với hệ thống CMKT công quốc tế, cụ thể: Tổ chức ngân sách (NS) lồng ghép với nhiều cấp như Trung ương, tỉnh, huyện, xã, trong đó, cấp xã vừa là một cấp NS vừa là một cấp dự toán; yêu cầu quản lý NS và các quy định quản lý tài chính áp dụng cho các đơn vị sử dụng NS và các cấp NS khá phức tạp, không giống như các nước khác.
Về hệ thống BCTC
Theo IPSAS, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công hàng năm phải lập BCTC là những đơn vị kinh tế có thể sử dụng hoặc không sử dụng kinh phí NSNN nhưng chịu sự kiểm soát của Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối thu chi. Chênh lệch giữa các khoản thu (bao gồm cả kinh phí NS cấp) trừ các khoản chi (bao gồm cả kinh phí NS cấp) đã sử dụng trong quá trình hoạt động là thặng dự hoặc thâm hụt thuần (doanh nghiệp gọi là lãi lỗ) của đơn vị trong kỳ kế toán. Theo CMKT công quốc tế, các đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập bốn BCTC để công khai gồm: Bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình tài chính; Báo cáo kết quả hoạt động để phản ánh quá trình hoạt động và xác định thặng dư hoặc thâm hụt của đơn vị kỳ kế toán; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh BCTC.
Theo chế độ kế toán HCSN, đơn vị thụ hưởng NSNN (chứ chưa phải là đơn vị kinh tế theo IPSAS và các đơn vị HCSN khác) phải lập 6 báo cáo, gồm: Bảng cân đối tài khoản (Mẫu B01-H); Báo cáo "Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng" (Mẫu B02-H); Báo cáo thu chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh (Mẫu B03-H); Báo cáo tình hình tăng giảm tài sản cố định (Mẫu B04-H); Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang; Thuyết minh BCTC.
Theo CMKT công quốc tế, đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập báo cáo kết quả hoạt động để phản ánh thu, chi phát sinh trong qúa trình hoạt động để xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần của đơn vị trong kỳ kế toán. Theo chế độ kế toán HCSN, toàn bộ các khoản kinh phí đơn vị đã tiếp nhận và sử dụng trong kỳ kế toán được phản ánh riêng ở báo cáo B02-H. Nếu thực hiện theo IPSAS, toàn bộ các khoản thu bao gồm cả số kinh phí đã tiếp nhận và các khoản chi bao gồm cả số kinh phí đã sử dụng phát sinh trong kỳ được phản ánh vào báo cáo kết quả hoạt động. Còn ở Việt Nam, toàn bộ các khoản thu chi của đơn vị HCSN được phản ánh ở hai báo cáo riêng biệt, trong đó, kinh phí đã tiếp nhận và sử dụng phản ánh ở báo cáo B02-H; Các khoản thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh phản ánh ở Báo cáo B30-H. Theo IPSAS, các đơn vị công phải xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần trên cơ sở so sánh chênh lệch các khoản thu, chi phát sinh trong kỳ. CŨng theo IPSAS, các khoản thu chi trong quá trình hoạt động của đơn vị được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích còn theo quy định của Chế độ kế toán HCSN thì toàn bộ quá trình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN và các khoản thu, chi của hoạt động sự nghiệp được phản ánh về cơ bản theo nguyên tắc cơ sở tiền mặt, các khoản thu, chi của hoạt động sản xuất kinh doanh được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích.
Còn hệ thống BCTC của đơn vị HCSN đã đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước, phù hợp với Luật NSNN và các chínhc sách quản lý tài chính đối với đơn vị HCSN. Tuy nhiên, BCTC này mới chỉ là một bộ phận cấu thành để tổng hợp và báo cáo quyết toán NS nhằm phục vụ điều hành NS của Quốc hội mà chưa phải là BCTC của một đơn vị kinh tế của đơn vị bị kiểm soát để phục vụ cho việc hợp nhất BCTC của Chính phủ để công khai nhằm đánh giá năng lực tài chính và kết quả kinh doanh của quốc gia trong từng năm tài chính. Đồng thưòi, trong hệ thống BCTC của đơn vị HCSN Việt Nam hiện nay cũng chưa có Báo cáo lưu chuyển tiền tệ như IPSAS.
Về đặc điểm đơn vị HCSN
Thực tế các đơn vị HCSN ở Việt Nam hiện nay đang thực hiện nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư tài chính dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng chưa có chính sách tài chính nên không có cơ sở để quy định về kế toán như: kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ (đặc biệt là dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ như dịch vụ khoa học kỹ thuật…), kế toán chi phí đi vay, hàng tồn kho, thuê tài sản, các khoản dự phòng, công cụ tài chính.
Mặc dù, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 71/2006/THị TRƯờNG-BTC quy định đơn vị HCSN có hoạt động liên doanh, liên kết được thực hiện theo quy định tại Chuẩn mực số 07- Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết, Chuẩn mực số 08- Thông tin tài chính về các khoản góp vốn liên doanh- Ban hành theo quy định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ Tài chính là CMKT doanh nghiệp nên không phù hợp với CMKT số 07, 08 hướng dẫn về hoạt động liên doanh, liên kết của IPSAS áp dụng cho lĩnh vực công.
Về lập BCTC hợp nhất.
Theo IPSAS, toàn bộ các đơn vị dưới sự kiểm soát của Chính phủ thuộc trong nước và nước ngoài hoặc các đơn vị Chính phủ phải chịu trách nhiệm về tài sản và công nợ khi giải thể, phá sản đều được tổng hợp vào BCTC Chính phủ. Ngoài ra, tổng hợp lập báo cáo quyết toán chính quyền các cấp. Còn Việt Nam chưa xác lập được nội dung, mẫu biểu và phương pháp hợp nhất BCTC Chính phủ mà chỉ tổng hợp lập báo cáo quyết toán NSNN.
Có thể nói, cũng như các nước khác trên thế giới, hàng loạt các cải cách quản lý khu vực công (như quản lý theo kết quả đầu ra, kế hoạch NS trung hạn, tự chủ tài chính đơn vị HCSN, định hướng phát triển kế toán dồn tích…) cùng tới tiến trình hội nhập của Việt Nam (Gia nhập WTO, tham gia diễn đàn APEC, đối tượng hưởng ưu đãi từ nguồn vốn ODA, thành viên ASEAN…). Để đảm bảo cho Việt Nam có khả năng cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy, có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và được quốc tế thừa nhận về tình hình tài chính Nhà nước để có thể đầu tư đa quốc gia, tham gia cá liên minh, các tổ chức quốc tế hoặc đàm phán để đi vay, cho vay hoặc nhận tài trợ của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế, việc xây dựng, công bố một hệ thống CMKT công hoàn chỉnh có tính chất tương đồng và hài hoà với quốc tế cho Việt Nam trong giai đoạn hiện any là điều tất yếu, khách quan và vô cùng cần thiết.
Mai Thị Hoàng Minh (ĐH. Kinh tế TP. HCM)
(Tạp chí Kế toán)
Tapchiketoan.com
|