Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tài chính-kế toán
Linh hoạt sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Giảng dạy nghiệp vụ kế toán khi triển khai Luật Kế toán và Hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam
TCKT cập nhật: 13/08/2008
post-276-1077755769.jpgỞ các nước phát triển, Luật Kế toán là căn cứ để ban hành các chuẩn mực kế toán. Nhưng ở Việt Nam thì ngược lại, vào ngày 31/12/2001, Bộ Tài chính ký Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ban hành và công bố 04 chuẩn mực kế toán đầu tiên của Việt Nam dựa trên cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế nhưng đến ngày 17/6/2003, Luật Kế toán Việt Nam mới được thông qua và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2004.

Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, để thu hút đầu tư nước ngoài, việc khẩn trương xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật kế toán phù hợp với thông lệ quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Đối với Việt Nam, Luật Kế toán là văn bản pháp lý cao nhất về kế toán, còn Chuẩn mực kế toán là những quy định về nguyên tắc và những thủ tục hướng dẫn thực hiện những nguyên tắc được cụ thể hoá từ luật kế toán.

Trường đại học (ĐH) là nơi đào tạo và trang bị những kiến thức khoa học, phương pháp luận cho sinh viên. Chính vì vậy, chỉ ở trong trường ĐH, sinh viên mới có được những kiến thức cơ bản, cần thiết tối thiểu về bản chất, quy luật của vấn đề. Thông qua những kiến thức đã được trang bị trong trường ĐH, sinh viên vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra.

Trước đây, khi đất nước ta mới giải phóng, thống nhất đất nước, cán bộ tài chính, kế toán thiếu nghiêm trọng. Vì vậy, phải khẩn trường đào tạo ra những cán bộ tài chính, kế toán nắm vững chính sách, chế độ để làm việc như một cán bộ thực hành. Vì vậy, việc đào tạo cán bộ tài chính, kế toán bậc đại học, cao đẳng, trung cấp không có sự khác nhau nhiều.

Ngày nay, sinh viên không thể thụ động tiếp thu một cách máy móc những quy định có tính chất áp đặt chủ quan. Thực tế việc giảng dạy trong các trường ĐH của các nước phát triển trên thế giới là giảng dạy các vấn đề khoa học một cách khách quan kể cả trong lĩnh vực thi kết thúc, thực hiện đánh giá kết quả môn học. Cần phải có những định hướng và bước đi cụ thể trong việc giảng dạy các môn nghiệp vụ kế toán khi vận dụng Luật Kế toán và chuẩn mực Kế toán của Việt Nam theo những đề xuất cơ bản, chủ yếu như sau:

Một là, phải khẩn trương xây dựng lộ trình, từng bước chuyển dần từ giảng dạy bám vào chế độ và chuẩn mực chuyển sang giảng dạy các vấn đè khoa học, hoàn toàn mang tính chất khách quan, phù hợp với thông lệ Quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Dần dần chuyển giao đào tạo chuẩn mực và chế độ sang cho các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp.

Đây là việc phải làm ngay, không thể giảng dạy mà cứ bám vào chế độ. Trên thế giới, nhất là các nước phát triển như Hoa Kỳ không có chế độ kế toán như Việt Nam. Kết quả giảng dạy theo kiểu nắm chế độ kế toán Việt Nam rất khó thích nghi với sự thay đổi của xã hội. Đặc biệt khi nền kinh tế thay đôỉ theo hướng hội nhập và không còn chế độ kế toán nữa thì những sv Việt Nam được đào tạo theo kiểu cũ sẽ khó kiếm được việc làm ở những DN nước ngoài và gặp khó khăn khi giải quyết các vấn đề thực tiễn đa dạng đặt ra.

Hai là, kết hợp giảng dạy những vấn đề khoa học với việc so sánh đánh giá những ưu nhược điểm, những điểm hợp lý, bất hợp lý, những quy định của Việt Nam với quốc tế và những giải pháp khi vận dụng,  cùng với những ý kiến đề xuất sửa đổi.

Để đáp ứng được yêu cầu này, giảng viên phải tăng cường học tập, nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, tích luỹ kinh nghiệm. Thực tế để giải quyết được các vấn đề thực tiễn và yêu cầu của sinh viên đặt ra.

Ba là, thay đổi phương pháp thi, kiểm tra đánh giá môn học. Cần phải cải tiến, thay đổi hình thức thi kết thúc môn học và đánh giá kết quả của sinh viên hiện nay, không thực hiệnt hi một hoặc hai đề như hiện nay mà phải thực hiện thi đánh giá môn học đảm bảo toàn diện, với đề thi phải xuyên suốt chương trình giảng dạy bằng các câu hỏi thi trắc nghiệm khách quan trên máy vi tính.

Bốn là, mở rộng và tăng cường diện viết tiểu luận môn học với những đề phài phong phú cho sinh viên tự chọn có sự định hướng (không bắt buộc, không áp đặt sinh viên, phải tôn trọng ý kiến sinh viên) của giáo viên, nhằm tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học sáng tạo của sinh viên ngay trong quá trình học của từng môn học, đồng thời, tăng cường thúc đẩy giảng viên học tập nghiên cứu mới có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu cái mới của sinh viên.

Năm là, cần cải tiến và khuyến khích sinh viên thực tập tốt nghiệp, viết chuyên đề, luận văn về những vấn đề mới, để tăng cường khai thác tính sáng tạo và sự nhiệt huyết của sinh viên, cũng như thúc đẩy giáo viên và sinh viên cùng thi đua tích cực nghiên cứu những lĩnh vực mới. Qua đó, không ngừng nâng cao trình độ và kinh nghiệm thực tiễn cho cả giáo viên và sinh viên.

Sáu là tăng cường kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết trong trường học vơớ thực tiễn trong các DN.

Việc làm này có phần đã cũ, nhưng cần tăng cường nghiên cứu, đánh giá những sản phẩm của nhà trường sau khi đào tạo đưa vào thực tiễn xem có những ưu nhược điểm gì? Kể cả những hạn chế khi làm việc cho các DN trong nước và nước ngoài để có được giải pháp khắc phục kịp thời thì sản phẩm mới được xã hội đón nhận một cách thực sự cần thiết và hiệu quả.

Bảy là, nên quan tâm nhiều hơn đến yêu cầu của thực tiễn.

Thực tiễn sẽ là căn cứ rất khắt khe để đánh giá chất lượng đào tạo và năng lực làm việc, nhất là khi thị trường lao động và việc làm mở cửa với sự xuất hiện của nhiều DN nước ngoài.

Xu hứơng xã hội sẽ cần những người có trình độ, bằng cấp nhưng phải làm được việc và có chất lượng thực sự chứ không phải bằng cấp giả tạo, làm việc hình thức, ngồi chờ hết tháng lấy lương…như hiện nay, nhất là DN nước ngoài và các DN tư nhân, công ty TNHH, DN liên doanh.

Tám là, để giảng dạy tốt về kế toán, cần phải có được sự kết hợp nhuần nhuyễn về hai phương pháp giảng dạy hiện đại và truyền thống với nhiều kỹ thuật kết hợp, như: minh hoạ, diễn giải, thuyết trình, thảo luận, nêu vấn đề, đối thoại. Không nên quay lưng phủ nhận các phương pháp giảng dạy truyền thống…

Cần phải triển khai các điều kiện để thực hiện: Về phía Nhà nước, cần phải có hệt hống những văn bản pháp lý phù hợp với lộ trình đào tạo hội nhập tạo hành lang pháp lý để các trươờg có cơ sở tổ chức thực hiện các mục tiêu và chương trình đã đặt ra.

Về phía nhà trường, cần phải có quy định phù hợp với điều kiện cụ thể của mình để các môn học nghiệp vụ được triển khai một cách tốt nhất; Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, tài liệu và phương tiện giảng dạy, học tập, thi cử, đánh giá kết quả nghiêm minh, vô tư, khách quan. Khuyến khích và thúc đẩy được tính tích cực của sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu; Đánh giá khen thưởng, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời đối với những người làm tốt, làm hay, làm chất lượng mới kích thích được tính tích cực của mỗi con người, mỗi giáo viên và học viên.

Về phía các giáo viên phải có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn, cũng như lòng nhiệt huyết và sự say mê, yêu nghề.

Về phía xã hội và các DN khi tiếp nhận sinh viên phải khách quan, lựa chọn, sử dụng đúng nhân tài, đúng người, đúng việc, mới kích thích động viên được cả thầy lẫn trò trong quá trình học tập và giảng dạy.

Cuối cùng, cần tạo ra những con người của thời đại, có tri thức hiểu biết, có năng lực thực hành, năng động, sáng tạo và có tác phong chuyên nghiệp, hiện đại, có uy tín nghề nghiệp tầm cỡ khu vực và thế giới.

TS.Thịnh Văn Vinh - Học viện Tài chính (Tạp chí Kế toán)
Tapchiketoan.com

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Kế toán
Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam: Hoàn thiện các điều kiện chuyển giao quản lý hành nghề kế toán
VỀ MỘT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
Nghề kế toán, kiểm toán trong kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
Kiểm toán
Kiểm toán điều tra Một biện pháp quan trọng để phát hiện và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Kiểm toán viên Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển thực trạng và giải pháp
Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
Kiểm toán – kiểm toán với sự minh bạch thông tin tài chính trên thị trường
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất.
Tài chính ở Mỹ và đề xuất mô hình thanh tra – giám sát đồng bộ thị trường tài chính Việt Nam
Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Thuế - phí
Mở rộng đối tượng được xoá nợ thuế
Cần biết về quyết toán thuế thu nhập cá nhân