Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tài chính-kế toán
Linh hoạt sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Về chuẩn mực kế toán: "Các khoản đầu tư vào công ty liên kết"
TCKT cập nhật: 21/09/2006

 Ngày 30/3/2005, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 23/2005/TT-BTC hướng dẫn thực hiện 6 CMKT đợt 3, trong đó có Chuẩn mực số 07 (VAS 07) "Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết". Tuy nhiên, chúng tôi xin nêu ra một số điểm cần hoàn thiện để dễ tiếp cận hơn với chuẩn mực này.

Xác định tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư

Theo quy định của thông tư, tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư được xác định theo 2 trường hợp: tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư bằng tỷ lệ vốn góp và tỷ lệ quyền biểu quyết khác với tỷ lệ vốn góp.

Đối với trường hợp thứ nhất, tổng vốn góp của nhà đầu tư trong công ty liên kết hoặc tổng vốn góp của công ty con của nhà đầu tư trong công ty liên kết và tổng vốn chủ sở hữu của công ty liên kết trong công thức tính tỷ lệ quyền biểu quyết chưa được quy định một cách cụ thể cho công ty cổ phần. Đối với các công ty cổ phần, tỷ lệ quyền biểu quyết được xác định căn cứ vào tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong công ty liên kết hoặc tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty con của nhà đầu tư trong công ty liên kết. Tỷ lệ vốn góp có thể không ngang bằng với tỷ lệ số cổ phiếu có quyền biểu quyết mà nhà đầu tư nắm giữ. Chẳng hạn, trong ví dụ xác định lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu tư trong công ty liên kết (trường hợp đầu tư trực tiếp). Vì Thông tư hướng dẫn không quy định một cách cụ thể nên tỷ lệ quyền biểu quyết có thể được tính theo các cách khác nhau với những kết quả khác nhau như sau:

Cách thứ nhất, xác định tỷ lệ quyền biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp nếu không chú ý đến tổng vốn góp của bên đầu tư được xác định theo mệnh giá.

Tỷ lệ quyền biểu quyết của A trong B = [(2.000 x 11.000) / (8.000 x 10.000 + 20.000 + 2.000 x 1.000) ] x 100% = 21,15%

Cách thứ hai, xác định tỷ lệ quyền biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp nếu như có chú ý đến tổng vốn góp của bên đầu tư được xác định theo mệnh giá:

Tỷ lệ quyền biểu quyết của A trong B = [(2.000 x 10.000) / (8.000 x 10.000)] x 100% = 25%

Kết quả của cách tính thứ hai cũng giống như kết quả tính nếu căn cứ vào số cổ phiếu có quyền biểu quyết. Cụ thể, nếu căn cứ vào số cổ phiếu có quyền biểu quyết thì tỷ lệ quyền biểu quyết được xác định như sau:

Tỷ lệ quyền biểu quyết của A trong B = (2.000 / 8.000 ) x 100% = 25%

Chính vì kết quả khác nhau nên nếu như xác định tỷ lệ quyền biểu quyết theo công thức như Thông tư hướng dẫn thì cần phải có ghi chú để chỉ rõ tổng vốn góp của nhà đầu tư trong công ty liên kết, tổng vốn góp của công ty con của nhà đầu tư trong công ty liên kết và tổng vốn chủ sở hữu của công ty liên kết được xác định theo mệnh giá cổ phiếu trong trường hợp công ty liên kết là công ty cổ phần. Việc hướng dẫn cụ thể như vậy nhằm đảm bảo tính thống nhất giữa các tập đoàn khi xác định phạm vi liên kết.

Xác định lợi ích của nhà đầu tư gián tiếp

Theo quy định của Thông tư, phần lợi ích của bên đầu tư trong trường hợp này được xác định theo công thức sau:

Phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu tư gián tiếp trong công ty liên kết = (Tổng vốn góp của công ty con của nhà đầu tư trong công ty liên kết / Tổng vốn chủ sở hữu của công ty liên kết ) x 100% x Tổng lợi nhuận hoặc lỗ trong kỳ của công ty liên kết .

Tuy nhiên, công thức này chỉ được dùng khi xác định lợi ích của công ty con trong công ty liên kết chứ không được dùng để xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu tư gián tiếp trong công ty liên kết khi có sự hiện diện của cổ đông thiểu số trong vốn chủ sở hữu của công ty con. Trong trường hợp này, lợi ích của nhà đầu tư gián tiếp trong công ty liên kết có thể được xác định theo công thức sau:

Phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu tư gián tiếp trong công ty liên kết = Tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ trong công ty con x Tỷ lệ lợi ích của công ty con trong công ty liên kết x Tổng lợi nhuận hoặc lỗ trong kỳ của công ty liên kết

Trong đó:

Tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ trong công ty con = (Tổng vốn góp của công ty mẹ trong công ty con / Tổng vốn chủ sở hữu của công ty con) x 100%

Tỷ lệ lợi ích của công ty con trong công ty liên kết = (Tổng vốn góp của công ty con trong công ty liên kết / Tổng vốn chủ sở hữu của công ty liên kết) x 100%

Trường hợp công ty con và công ty liên kết là những công ty cổ phần thì phần vốn góp và vốn chủ sở hữu trong các công thức nêu trên được xác định căn cứ vào tổng mệnh giá cổ phiếu.

Ví dụ, công ty P nắm giữ 70% quyền sở hữu của công ty S công ty S nắm giữ 30% quyền sở hữu của công ty G. Trong năm tài chính, lợi nhuận của công ty G là 70.000. Với giả định này thì phần lợi nhuận trong năm của P trong G sẽ được tính như sau:

Lợi nhuận của P trong G = 70% x 30% x 70.000 = 14.700

Cách xác định lợi ích của nhà đầu tư trực tiếp

Trước hết, trong ví dụ xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu tư trong công ty liên kết (trường hợp nhà đầu tư trực tiếp), tỷ lệ lợi ích của nhà đầu tư có thể được được xác định theo công thức sau:

Tỷ lệ % lợi ích của nhà đầu tư trực tiếp trong công ty liên kết = [Tổng vốn gộp của nhà đầu tư trong công ty liên kết (theo mệnh giá) / Tổng vốn chủ sở hữu của công ty liên kết (tổng cộng mệnh giá cồ phiếu và những yếu tố khác thuộc vốn chủ sở hữu] x 100%

Cách xác định như trên không thể hiện được bản chất của vấn đề. Cụ thể là trên tử số của công thức, tổng vốn góp của nhà đầu tư trong công ty liên kết được xác định theo mệnh giá nhưng phần mẫu số lại phản ánh tổng vốn chủ sở hữu của công ty liên kết được xác định theo mệnh giá cổ phiếu và bao gồm cả các yếu tố khác của vốn chủ sở hữu. Khi đó, tỷ lệ % lợi ích sẽ không được tính đúng đắn lợi ích thực tế của nhà đầu tư trong công ty liên kết nếu phân tích kỹ hơn ảnh hưởng của yếu tố này đến quyền lợi như ví dụ ở phần đầu. Như vậy, cách tính toán trên không đảm bảo tính thống nhất trong việc xác định tỷ lệ % lợi ích và không phù hợp quy định của Thông tư hướng dẫn đã đề ra.

Với số liệu mà ví dụ đã cho, phần lợi nhuận của công ty A trong công ty B nên được xác định như sau:

Phần lợi nhuận của công ty A trong công ty B = [(2.000 x 10.000) / (8.000 x 10.000)] x 100% x 5.000.000 = 1.250.000

Tiếp đến, cách xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu tư trong công ty liên kết (trường hợp đầu tư gián tiếp). Với giả thiết trong ví dụ của thông tư đã cho, mô hình của tập đoàn có thể được mô tả theo sơ đồ sau đây:

Mô hình tập đoàn

Với số lợi nhuận trong năm 2004 của công ty C là 2.500.000, phần lợi nhuận của công ty A trong công ty C được xác định như sau:

Phần lợi nhuận của công ty A trong công ty C = [10.000.000 / (40.000.000 + 10.000.000)] x 100% x 2.500.000 = 500.000

Với cách tính như trên, việc xác định phần lợi nhuận của công ly A trong công ty C theo Thông tư hướng dẫn chỉ đúng khi công ty A sở hữu 100% công ty B. Nếu như có sự hiện diện của cổ đông thiểu số trong vốn chủ sở hữu của công ty B thì cách tính này không được thừa nhận.

Giả thiết công ty A có tỷ lệ lợi ích là M% trong công ty con B thì khi đó phần lợi nhuận của công ty A trong công ty C sẽ được xác định theo cách sau:

Phần lợi nhuận của công ty A trong công ty C = M % x [10.000.000 / (40.000.000 + 10.000.000)] x 100% x 2.500.000 = M% x 500.000

Bảng xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty liên kết

Đối với Bảng xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty liên kết này, có hai vấn đề cần được xem xét:

Thứ nhất, chỉ tiêu số 2- Phân bổ chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá trị ghi sổ TSCĐ. Đây là khoản mục nhằm điều chỉnh giá trị ghi sổ tài sản của công ty liên kết theo giả hợp lý để xác định lợi nhuận (hoặc lỗ) của khoản đầu tư vào công ty liên kết theo phương pháp vốn chủ sở hữu khi lập báo cáo tài chính hợp nhất. Tài sản đó không chỉ là tài sản cố định mà còn bao gồm nhiều tài sản khác nữa như vật tư, hàng hóa và chênh lệch khoản nợ phải trả. Khi vận dụng phương pháp vốn chủ sở hữu để xác định khoản lợi nhuận của công ty đầu tư thì điều tất yếu là phải tính toán cả phần chênh lệch giữa giá hợp lý và giá ghi sổ của cả những tài sản này. Vì thế, tên chỉ tiêu này như đã nêu trong Thông tư hướng dẫn này là chưa thực sự hợp lý và đầy đủ. Do vậy, nên ghi dòng số thứ lự số 2 này là phân bổ chênh lệch giá trị hợp lý và giá trị ghi sổ tài sản và nợ phải trả.

Thứ hai, thực chất của bảng này là xác định số cần điều chỉnh cho bút toán chuyển đổi từ phương pháp giá vốn sang phương pháp vốn chủ sở hữu đối với khoản đầu tư vào công ty liên kết khi lập báo cáo tài chính hợp nhất chứ không chỉ dừng lại ở mức chỉ xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty liên kết theo phương pháp vốn chủ sở hữu như đã ghi ở trong hướng dẫn. Để đảm bảo cho tính phù hợp giữa tên gọi với nội dung của bảng này, nên đổi tên bảng thành "Bảng xác định giá trị điều chỉnh theo phương pháp vốn chủ sở hữu".

Có thể thấy rằng thuật ngữ về "đầu lư vào công ty liên kết" là thuật ngữ còn rất mới mẻ trong hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp Việt Nam và trong các văn bản pháp luật của Việt Nam chưa được thể hiện đầy đủ phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chính vì vậy kế toán khoản đầu tư vào công ty liên kết trong giai đoạn chuyển đổi doanh nghiệp Việt Nam từ các tổng công ty sang mô hình tập đoàn kinh tế tất yếu có những điểm bỡ ngỡ trong nhận thức chung của các nhà quản lý nói chung và cán bộ kế toán nói riêng .

About the Accounting standard of investments into joint- venture company

Accounting standard No. 07 - investments accounting into joint- venture company still shows some problems that should be changed and completed to be more suitable, such as defining the voting right ratio of investors in the owner's capital of receiving investment party; definig profits or losses of the indirect investors in the joint- venture company; the ways of caculating profits or losses of the indirect investors in the joint - venture company; Table of profits and losses of the indirect investors in the joint - venture company.

TS. Trương Thị Thủy - TS. Lê Văn Liên

(Tạp chí Kế Toán) 

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Kế toán
Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam: Hoàn thiện các điều kiện chuyển giao quản lý hành nghề kế toán
VỀ MỘT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
Nghề kế toán, kiểm toán trong kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
Kiểm toán
Kiểm toán điều tra Một biện pháp quan trọng để phát hiện và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Kiểm toán viên Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển thực trạng và giải pháp
Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
Kiểm toán – kiểm toán với sự minh bạch thông tin tài chính trên thị trường
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất.
Tài chính ở Mỹ và đề xuất mô hình thanh tra – giám sát đồng bộ thị trường tài chính Việt Nam
Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Thuế - phí
Mở rộng đối tượng được xoá nợ thuế
Cần biết về quyết toán thuế thu nhập cá nhân