|
Ngày 30/3/2005, Bộ Tài chính ban hành
Thông tư số 23/2005/TT-BTC hướng dẫn thực hiện 6 CMKT
đợt 3, trong đó có Chuẩn mực số
07 (VAS 07) "Kế toán các khoản
đầu tư vào công ty liên kết". Tuy
nhiên, chúng tôi xin nêu ra một
số điểm cần hoàn thiện để dễ tiếp
cận hơn với chuẩn mực này.
Xác định tỷ lệ quyền biểu
quyết của nhà đầu tư trong
vốn chủ sở hữu của bên nhận
đầu tư
Theo quy định của thông tư,
tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà
đầu tư trong vốn chủ sở hữu của
bên nhận đầu tư được xác định
theo 2 trường hợp: tỷ lệ quyền
biểu quyết của nhà đầu tư bằng
tỷ lệ vốn góp và tỷ lệ quyền biểu
quyết khác với tỷ lệ vốn góp.
Đối với trường hợp thứ nhất,
tổng vốn góp của nhà đầu tư
trong công ty liên kết hoặc tổng
vốn góp của công ty con của nhà
đầu tư trong công ty liên kết và
tổng vốn chủ sở hữu của công ty
liên kết trong công thức tính tỷ lệ
quyền biểu quyết chưa được quy
định một cách cụ thể cho công ty
cổ phần. Đối với các công ty cổ
phần, tỷ lệ quyền biểu quyết
được xác định căn cứ vào tỷ lệ cổ
phiếu có quyền biểu quyết của
nhà đầu tư trong công ty liên kết
hoặc tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu
quyết của công ty con của nhà
đầu tư trong công ty liên kết. Tỷ
lệ vốn góp có thể không ngang
bằng với tỷ lệ số cổ phiếu có
quyền biểu quyết mà nhà đầu tư
nắm giữ. Chẳng hạn, trong ví dụ
xác định lợi nhuận hoặc lỗ của
nhà đầu tư trong công ty liên kết
(trường hợp đầu tư trực tiếp). Vì
Thông tư hướng dẫn không quy
định một cách cụ thể nên tỷ lệ
quyền biểu quyết có thể được
tính theo các cách khác nhau với
những kết quả khác nhau như
sau:
Cách thứ nhất, xác định tỷ lệ
quyền biểu quyết theo tỷ lệ vốn
góp nếu không chú ý đến tổng
vốn góp của bên đầu tư được xác
định theo mệnh giá.
Tỷ lệ quyền biểu quyết của A trong
B = [(2.000 x 11.000) / (8.000 x 10.000
+ 20.000 + 2.000 x 1.000) ] x 100% = 21,15%
Cách thứ hai, xác định tỷ lệ
quyền biểu quyết theo tỷ lệ vốn
góp nếu như có chú ý đến tổng
vốn góp của bên đầu tư được xác
định theo mệnh giá:
Tỷ lệ quyền biểu quyết của A
trong B = [(2.000 x 10.000) / (8.000
x 10.000)] x 100% = 25%
Kết quả của cách tính thứ hai
cũng giống như kết quả tính nếu
căn cứ vào số cổ phiếu có quyền
biểu quyết. Cụ thể, nếu căn cứ
vào số cổ phiếu có quyền biểu
quyết thì tỷ lệ quyền biểu quyết
được xác định như sau:
Tỷ lệ quyền biểu quyết của A trong
B = (2.000 / 8.000 ) x 100% = 25%
Chính vì kết quả khác nhau
nên nếu như xác định tỷ lệ quyền
biểu quyết theo công thức như
Thông tư hướng dẫn thì cần phải
có ghi chú để chỉ rõ tổng vốn góp
của nhà đầu tư trong công ty liên
kết, tổng vốn góp của công ty
con của nhà đầu tư trong công ty
liên kết và tổng vốn chủ sở hữu
của công ty liên kết được xác
định theo mệnh giá cổ phiếu
trong trường hợp công ty liên kết
là công ty cổ phần. Việc hướng
dẫn cụ thể như vậy nhằm đảm
bảo tính thống nhất giữa các tập
đoàn khi xác định phạm vi liên kết.
Xác định lợi ích của nhà
đầu tư gián tiếp
Theo quy định của Thông tư,
phần lợi ích của bên đầu tư trong
trường hợp này được xác định
theo công thức sau:
Phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà đầu
tư gián tiếp trong công ty liên kết = (Tổng vốn góp của công ty con của nhà
đầu tư trong công ty liên kết / Tổng vốn
chủ sở hữu của công ty liên kết ) x
100% x Tổng lợi nhuận hoặc lỗ trong kỳ
của công ty liên kết .
Tuy nhiên, công thức này chỉ
được dùng khi xác định lợi ích
của công ty con trong công ty
liên kết chứ không được dùng để
xác định phần lợi nhuận hoặc lỗ
của nhà đầu tư gián tiếp trong
công ty liên kết khi có sự hiện
diện của cổ đông thiểu số trong
vốn chủ sở hữu của công ty
con. Trong trường hợp này, lợi
ích của nhà đầu tư gián tiếp
trong công ty liên kết có thể
được xác định theo công thức
sau:
Phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà
đầu tư gián tiếp trong công ty liên kết
= Tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ trong
công ty con x Tỷ lệ lợi ích của công
ty con trong công ty liên kết x Tổng
lợi nhuận hoặc lỗ trong kỳ của công
ty liên kết
Trong đó:
Tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ trong
công ty con = (Tổng vốn góp của
công ty mẹ trong công ty con / Tổng
vốn chủ sở hữu của công ty con) x
100%
Tỷ lệ lợi ích của công ty con trong
công ty liên kết = (Tổng vốn góp của
công ty con trong công ty liên kết / Tổng vốn chủ sở hữu của công ty
liên kết) x 100%
Trường hợp công ty con và
công ty liên kết là những công
ty cổ phần thì phần vốn góp và
vốn chủ sở hữu trong các công
thức nêu trên được xác định
căn cứ vào tổng mệnh giá cổ
phiếu.
Ví dụ, công ty P nắm giữ
70% quyền sở hữu của công ty
S công ty S nắm giữ 30%
quyền sở hữu của công ty G.
Trong năm tài chính, lợi nhuận
của công ty G là 70.000. Với
giả định này thì phần lợi nhuận
trong năm của P trong G sẽ
được tính như sau:
Lợi nhuận của P trong G = 70% x
30% x 70.000 = 14.700
Cách xác định lợi ích của
nhà đầu tư trực tiếp
Trước hết, trong ví dụ xác
định phần lợi nhuận hoặc lỗ
của nhà đầu tư trong công ty
liên kết (trường hợp nhà đầu tư
trực tiếp), tỷ lệ lợi ích của nhà
đầu tư có thể được được xác
định theo công thức sau:
Tỷ lệ % lợi ích của nhà đầu tư
trực tiếp trong công ty liên kết = [Tổng vốn gộp của nhà đầu tư trong
công ty liên kết (theo mệnh giá) / Tổng vốn chủ sở hữu của công ty
liên kết (tổng cộng mệnh giá cồ
phiếu và những yếu tố khác thuộc
vốn chủ sở hữu] x 100%
Cách xác định như trên
không thể hiện được bản chất
của vấn đề. Cụ thể là trên tử số
của công thức, tổng vốn góp
của nhà đầu tư trong công ty
liên kết được xác định theo
mệnh giá nhưng phần mẫu số
lại phản ánh tổng vốn chủ sở
hữu của công ty liên kết được
xác định theo mệnh giá cổ
phiếu và bao gồm cả các yếu
tố khác của vốn chủ sở hữu.
Khi đó, tỷ lệ % lợi ích sẽ
không được tính đúng đắn lợi
ích thực tế của nhà đầu tư
trong công ty liên kết nếu phân
tích kỹ hơn ảnh hưởng của yếu
tố này đến quyền lợi như ví dụ
ở phần đầu. Như vậy, cách tính
toán trên không đảm bảo tính
thống nhất trong việc xác định
tỷ lệ % lợi ích và không phù
hợp quy định của Thông tư
hướng dẫn đã đề ra.
Với số liệu mà ví dụ đã cho,
phần lợi nhuận của công ty A
trong công ty B nên được xác
định như sau:
Phần lợi nhuận của công ty A
trong công ty B = [(2.000 x
10.000) / (8.000 x 10.000)] x
100% x 5.000.000 = 1.250.000
Tiếp đến, cách xác định
phần lợi nhuận hoặc lỗ của nhà
đầu tư trong công ty liên kết
(trường hợp đầu tư gián tiếp).
Với giả thiết trong ví dụ của
thông tư đã cho, mô hình của
tập đoàn có thể được mô tả
theo sơ đồ sau đây:
Với số lợi nhuận trong năm
2004 của công ty C là 2.500.000,
phần lợi nhuận của công ty A
trong công ty C được xác định
như sau:
Phần lợi nhuận của công ty A trong
công ty C = [10.000.000 / (40.000.000 +
10.000.000)] x 100% x 2.500.000 = 500.000
Với cách tính như trên, việc
xác định phần lợi nhuận của
công ly A trong công ty C theo
Thông tư hướng dẫn chỉ đúng
khi công ty A sở hữu 100% công
ty B. Nếu như có sự hiện diện
của cổ đông thiểu số trong vốn
chủ sở hữu của công ty B thì
cách tính này không được thừa
nhận.
Giả thiết công ty A có tỷ lệ lợi
ích là M% trong công ty con B
thì khi đó phần lợi nhuận của
công ty A trong công ty C sẽ
được xác định theo cách sau:
Phần lợi nhuận của công ty A trong
công ty C = M % x [10.000.000 / (40.000.000 + 10.000.000)] x 100% x
2.500.000 = M% x 500.000
Bảng xác định phần lợi
nhuận hoặc lỗ trong công ty
liên kết
Đối với Bảng xác định phần
lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty
liên kết này, có hai vấn đề cần
được xem xét:
Thứ nhất, chỉ tiêu số 2-
Phân bổ chênh lệch giữa giá
trị hợp lý và giá trị ghi sổ
TSCĐ. Đây là khoản mục
nhằm điều chỉnh giá trị ghi sổ
tài sản của công ty liên kết
theo giả hợp lý để xác định lợi
nhuận (hoặc lỗ) của khoản đầu
tư vào công ty liên kết theo
phương pháp vốn chủ sở hữu
khi lập báo cáo tài chính hợp
nhất. Tài sản đó không chỉ là
tài sản cố định mà còn bao
gồm nhiều tài sản khác nữa
như vật tư, hàng hóa và chênh
lệch khoản nợ phải trả. Khi vận
dụng phương pháp vốn chủ sở
hữu để xác định khoản lợi
nhuận của công ty đầu tư thì
điều tất yếu là phải tính toán cả
phần chênh lệch giữa giá hợp
lý và giá ghi sổ của cả những
tài sản này. Vì thế, tên chỉ tiêu
này như đã nêu trong Thông tư
hướng dẫn này là chưa thực sự
hợp lý và đầy đủ. Do vậy, nên
ghi dòng số thứ lự số 2 này là
phân bổ chênh lệch giá trị
hợp lý và giá trị ghi sổ tài sản
và nợ phải trả.
Thứ hai, thực chất của bảng
này là xác định số cần điều
chỉnh cho bút toán chuyển đổi
từ phương pháp giá vốn sang
phương pháp vốn chủ sở hữu
đối với khoản đầu tư vào công
ty liên kết khi lập báo cáo tài
chính hợp nhất chứ không chỉ
dừng lại ở mức chỉ xác định
phần lợi nhuận hoặc lỗ trong
công ty liên kết theo phương
pháp vốn chủ sở hữu như đã
ghi ở trong hướng dẫn. Để đảm
bảo cho tính phù hợp giữa tên
gọi với nội dung của bảng này,
nên đổi tên bảng thành "Bảng
xác định giá trị điều chỉnh
theo phương pháp vốn chủ sở
hữu".
Có thể thấy rằng thuật ngữ
về "đầu lư vào công ty liên
kết" là thuật ngữ còn rất mới
mẻ trong hoạt động kinh tế
của các doanh nghiệp Việt
Nam và trong các văn bản
pháp luật của Việt Nam chưa
được thể hiện đầy đủ phù hợp
với chuẩn mực quốc tế. Chính
vì vậy kế toán khoản đầu tư
vào công ty liên kết trong giai
đoạn chuyển đổi doanh
nghiệp Việt Nam từ các tổng
công ty sang mô hình tập
đoàn kinh tế tất yếu có những
điểm bỡ ngỡ trong nhận thức
chung của các nhà quản lý nói
chung và cán bộ kế toán nói
riêng .
About the Accounting standard of investments into joint- venture company
Accounting standard No. 07 - investments accounting into joint-
venture company still shows some problems that should be
changed and completed to be more suitable, such as defining the
voting right ratio of investors in the owner's capital of receiving
investment party; definig profits or losses of the indirect
investors in the joint- venture company; the ways of caculating
profits or losses of the indirect investors in the joint - venture company; Table of profits and losses of the indirect investors in
the joint - venture company.
TS. Trương Thị Thủy - TS. Lê Văn Liên
(Tạp chí Kế Toán)
|