Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tài chính-kế toán
Linh hoạt sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Một số mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung trong KTQT (Phần 1)
TCKT cập nhật: 05/08/2006

42-15477096.jpgKế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là vấn đề cơ bản, là hạt nhân của KTQT nói chung. Mục tiêu của kế toán quản trị CPSX và GTSP là xác định được giá phí của các loại sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra nhằm cung cấp các thông tin hữu ích, trợ giúp các nhà quản trị ra được các quyết định phù hợp. Trong các tài khoản chi phí sản xuất, việc quy nạp khoản CPNCTT, CPNVLTT cho từng loại sản phẩm không quá phức tạp vì chúng thường liên quan trực tiếp tới từng loại sản phẩm, từng dịch vụ cụ thể. Riêng đối với tài khoản CPSXC, do có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, nhiều loại dịch vụ nên việc phân bổ, quy nạp khoản mục này là rất phức tạp. Để xử lý vấn đề này, lý luận và thực tiễn KTQT đã phát triển một số mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung sau:

1. Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, khi các hệ thống xác định giá phí trong KTQT bắt đầu được xây dựng và phát triển, hoạt động sản xuất còn mang nặng tính thủ công. Tại thời điểm này, các nhà quản trị cho rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc sử dụng nhân công với sự phát sinh chi phí sản xuất chung. Do vậy, chi phí nhân công (hoặc là các nhân tố liên quan đến nhân công như: số giờ công...) đã được sử dụng là tiêu chuẩn duy nhất để phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng loại sản phẩm, dịch vụ.

Những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự ứng dụng mạnh mẽ công nghệ tự động hoá đã làm quá trình sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào máy móc, thiết bị. Lúc này, các nhân tố liên quan đến việc sử dụng máy như: số giờ làm việc lại được sử dụng làm tiêu chuẩn phân bổ duy nhất.

Ưu điểm của mô hình phân bổ CPSXC sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất là áp dụng đơn giản, chi phí quản lý thấp nhưng lại dẫn đến việc phân bổ CPSXC không chính xác khi các yếu tố chi phí phong phú và CPSXC phức tạp hơn. Do đó, mô hình này chỉ có thể vận dụng được khi có các điều kiện sau:

+ Nền kinh tế chưa phát triển, hoạt động sản xuất còn mang nặng tính thủ công.

+ Chi phí sản xuất chung chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng thể CPSX.

 

Sơ đồ 1: Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất.

  

2. Mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ phận

Những năm sau đó, sự gia tăng của CPSXC, sự phong phú của các yếu tố chi phí đã cho thấy việc sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất là không hợp lý. Do vậy, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng mô hình phân bổ CPSXC theo bộ phận. Mô hình này gồm 2 giai đoạn: Ở giai đoạn thứ nhất, CPSXC được tập hợp cho các trung tâm chi phí là các bộ phận, các đơn vị trực thuộc theo mô hình tổ chức sản xuất của doanh nghiệp. Ở giai đoạn thứ hai, CPSXC được phân bổ từ các trung tâm đó cho từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Để phân bổ CPSXC, kế toán sử dụng nhiều tiêu chuẩn phân bổ khác nhau phù hợp với bản chất của các công việc được thực hiện ở từng bộ phận (trung tâm chi phí).

Ưu điểm của mô hình này là việc sử dụng nhiều tiêu chuẩn phân bổ khác nhau tương ứng với từng trung tâm chi phí, mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ phận đã cho phép xác định giá phí của từng loại sản phẩm, dịch vụ một cách chính xác hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau về tính chất, kích cỡ, quy trình sản xuất phức tạp thì mô hình này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Do vậy, mô hình này có thể vận dụng khi có những điều kiện sau:

+ Có sự gia tăng của CPSXC, sự phong phú của các yếu tố chi phí.

+ Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại.

Sơ đồ 2: Mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ phận.

untitled2

Quang Khải (http://www.tapchiketoan.info/)

Theo dòng sự kiện:
  • Một số mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung trong KTQT (Phần 2)
  • In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
     
    Các tin mới hơn:
    Các tin khác:
    Kế toán
    Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
    Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
    Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam: Hoàn thiện các điều kiện chuyển giao quản lý hành nghề kế toán
    VỀ MỘT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
    Nghề kế toán, kiểm toán trong kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
    Kiểm toán
    Kiểm toán điều tra Một biện pháp quan trọng để phát hiện và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
    Kiểm toán viên Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển thực trạng và giải pháp
    Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
    Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
    Kiểm toán – kiểm toán với sự minh bạch thông tin tài chính trên thị trường
    Kế toán quốc tế
    Ngân hàng - Tài chính
    Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất.
    Tài chính ở Mỹ và đề xuất mô hình thanh tra – giám sát đồng bộ thị trường tài chính Việt Nam
    Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
    Thuế - phí
    Mở rộng đối tượng được xoá nợ thuế
    Cần biết về quyết toán thuế thu nhập cá nhân