|
Nhược điểm của phương pháp trực tiếp
DN ít có kinh nghiệm về những khoản nợ phải thu khó đòi có thể sử dụng phương pháp trực tiếp- phương pháp này giả định rằng mọi DN đều sẽ thu được tiền trừ phi có bằng chứng khác. Nếu khoản nợ khó đòi nhỏ và không phát sinh thường xuyên, thực hiện phương pháp này sẽ không làm cho báo cáo bị sai lệch về tình trạng tài chính một cách trọng yếu. Khi khoản nợ phải thu của khách hàng được xác định là không thể thanh toán thì tiến hành xử lý nợ khoản phải thu khó đòi, khoản phải thu sẽ giảm. Bởi vì, TK Phải thu của khách hàng không xác định rõ thì có thể cho thấy rằng khoản nợ không thể thu được vào cuối năm 2001 , tức là vào ngày 31/12/2001 . Bảng cân đối kế toán của DN chỉ thể hiện đơn giản trên tài khoản nợ phải thu là 40.000.000 đồng.
Giả sử, trong suốt năm tới, năm 2002, người bán hàng xác định có một số khách hàng không có khả năng trả nợ tiền hàng. Khi cơ hội thu tiền từ những khách hàng đã xác định được là không có khả năng trả nợ, thì số tiền trong tài khoản phải được ghi nhận vào chi phí trong kỳ như là khoản lỗ (Biểu 1).
Phương pháp trực tiếp đã bị chỉ trích một cách mạnh mẽ vì vi phạm nguyên tắc phù hợp trong kế toán dự thu dự chi (dồn tích). Khoản nợ phải thu khó đòi 2.000.000 đồng đưa vào chi phí như khoản lỗ vào năm 2001 liên quan đến doanh thu 100.000.000 đồng của năm 2001 . Nguyên tắc phù hợp đòi hỏi việc ghi nhận vào chi phí các khoản nợ phải thu khó dòi như khoản lỗ vào thời diềm doanh thu được ghi nhận, đó là vào năm 2001, không phải năm 2002. Kết quả chi phí không phù hợp với doanh thu, phương pháp trực tiếp sẽ tạo ra hai sai sót
Đầu tiên, thu nhập năm 2002 bị phóng đại lên 2.000.000 đồng vì khoản nợ phải thu này không phải là nợ phải thu khó đòi được đưa vào chì phí cho năm đó .
Thứ hai, thu nhập năm 2002 ghi nhận giảm đi 2.000.000 đồng. Bởi vì khoản nợ phải thu khó đòi 2.000.000 đồng/năm 2001 được ghi nhận vào chi phí năm 2002. So sánh sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí theo phương pháp trực tiếp (Biểu 2) .
Luận cứ chủ yếu để bảo vệ cho phương pháp trực tiếp là dựa vào mối quan tâm giữa lợi ích, chi phí và nguyên tắc thực chất. Xét về cơ bản, phương pháp trực tiếp là phương pháp cực kỳ đơn giản, ít tốn kém khi sử dụng. Hơn nữa, không có sự sai sót trọng yếu trong sự đo lường thu nhập xảy ra nếu khoản nợ khó đòi là nhỏ và tương tự từ một năm đến hai năm.
Như vậy, Thông tư 107 , ngày 31/12/2001, dự phòng nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu, có thể khó dòi do đơn vị nợ hoặc người nợ không có khả năng thanh toán trong năm kế hoạch. Cách lập dự phòng này thực hiện theo phương pháp trực tiếp, do đến cuối kỳ kế toán năm mới xem xét khoản nợ phải thu khó đòi phát sinh.
Việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi đều được thực hiện ở thời điểm khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm. Theo Thông tư 107, yêu cầu các khoản nợ phải thu khó đòi phải có tên, địa chỉ, nội dung từng khoản nợ, số tiền phải thu của từng đơn vị nợ hoặc người nợ, trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi. Để có căn cứ lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, DN phải có chứng từ gốc hoặc xác nhận của đơn vị nợ hoặc người nợ về số tiền còn nợ chưa trả, bao gồm: hợp đổng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ...
Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ 2 năm trở lên, kể từ ngày đến hạn thu nợ được ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ, DN đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được nợ thì được ghi nhận là khoản nợ phải thu khó đòi.
Trường hợp đặc biệt, tuy thời gian quá hạn chưa tới 2 năm, nhưng đối với nợ đang trong thời gian xem xét giải thể, phá sản hoặc người nợ có dấu hiệu bỏ trốn, bị truy tố, bị giam giữ,... thì cũng được ghi nhận là khoản nợ khó đòi. Theo Thông tư số 55 ngày 26/6/2002, thời hạn được xem xét là quá hạn thanh toán từ 1 năm trở lên. Như vậy, theo Thông tư 107, quy định các DN lập dự phòng theo phương pháp trực tiếp, nghĩa là DN vi phạm nguyên tắc phù hợp. Đồng thời, theo Thông tư 107, tổng mức lập dự phòng các khoản nợ thu khó đòi tối đa bằng 20% tổng số dư nợ phải thu của DN tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm, việc quy định này vi phạm nguyên tắc thận trọng.
Do vậy, Nhà nước cần hướng dẫn cho các DN thêm phương pháp ước tính (phân bổ) và khuyến cáo DN về phương pháp trực tiếp sẽ vi phạm nguyên tắc phù hợp trong kế toán. Phương pháp này, được biết như phương pháp ước tính và phân bổ, dựa trên 2 yếu tố: Dự kiến khoản nợ phải thu khó đòi; Sử dụng lài khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi dựa trên con số ước lượng và giảm trừ khoản phải thu.
Đồng thời, DN nên phân bổ nợ phải thu khó đòi theo tỷ lệ doanh thu, tỷ lệ khoản phải thu và theo độ dài thời gian khoản phải thu (hay còn gọi là tuổi nợ khoản phải thu).
Như vậy, khi áp dụng phương pháp ước tính, DN không vi phạm nguyên tắc phù hợp và nếu không ràng buộc 20% trên tổng số dư nợ thì DN sẽ không vi phạm nguyên tắc thận trọng.
TS. Phan Đức Dũng (Tạp chí Kế Toán)
|