|
(Bài viết có 2 trang. Bạn đang xem trang 1) Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế là một nhu cầu tất yếu của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam
trong suốt quá trình hình thành và phát triển. Trong 15 năm qua, ngành
kiểm toán độc lập của Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng đã có những bước
tiến bộ vượt bậc. Qua thực tiễn hoạt động, các công ty kiểm toán độc
lập Việt Nam đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường dịch vụ kiểm
toán và tư vấn trong nước.
Tuy nhiên, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi cao hơn đối với năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam. Theo đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa sống còn, giúp các công ty kiểm toán Việt Nam có thể tồn tại và phát triển ngay trên "sân nhà" và từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.
Bài viết dưới đây bàn về năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO dưới góc nhìn của thành viên Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam. Một số giải pháp liên quan được trình bày lồng ghép trong bài hướng tới các công ty kiểm toán, Nhà nước và hội nghề nghiệp.
Một cách chung nhất, năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn. Theo đó, năng lực cạnh tranh của DN trước hết phải được tạo ra từ những yếu tốt nội tại của DN. Những yếu tốt nội tại của mỗi DN không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghêj, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN…một cách riêng biệt mà cần được xem xét trong mối tương quan với các đối tác cạnh tranh trên cùng một lĩnh vực cùng một thị trường. Bên cạnh đó, những yếu tố bên ngoài như môi trường pháp lý, cơ chế chính sách của từng quốc gia…cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của DN tại quốc gia đó trong bối cảnh toàn cầu hoá.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một DN, cần phải xác định được các yếu tố nội tại bên trong và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của DN. Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, các yếu tố nội tại chủ yếu được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một công ty kiểm toán bao gồm: chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp; nguồn nhân lực; khả năng phát triển thị trường; thương hiệu, uy tín của DN; năng lực tài chính và công nghệ kiểm toán; năng lực tổ chức và quản trị DN.
- Chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp:
Chất lượng dịch vụ kiểm toán và các dịhc vụ khác ngày càng được nâng cao do nhiều yếu tố chru quan bên trong DN và các yếu tố khách quan bên ngoài. Mặc dù ngành kiểm toán độc lập trong thời gian qua có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng các công ty kiểm toán độc lập, tuy nhiên các công ty đều nhận thức rõ chất lượng dịch vụ cung cấp là yếu tố hàng đầu thể hiện năng lực cạnh tranh và quyết định sự sống còn của DN. Theo đó, các công ty kiểm toán độc lập đều thực hiện việc kiểm soát chất lượng kiểm toán trên các cấp độ khác nhau trong quy trình kiểm toán. Bên cạnh đó, việc ban hành khá đầy đủ và đồng bộ các văn bản pháp luật liên quan cũng như sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa Bộ Tài chính và Hội kiểm toán viên hành nghề trong hoạt động quản lý kiểm toán đã có tác động tích cực đến chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán độc lập cung cấp. Tuy nhiên, việc chậm trễ ban hành Quy chế kiểm soát chất lượng hành nghề kế toán, kiểm toán cũng gây khó khăn cho cơ quan chức năng và hội nghề nghiệp trong quản lý chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán.
Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và thị trường dịch vụ, các dịch vụ do các công ty kiểm toán cung cấp không ngừng được đa dạng hoá với các nhóm dịch vụ như: dịch vụ kiểm toán (kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB), dịch vụ phi kiểm toán (dịch vụ kế toán, dịch vụ đào tạo bồi dưỡng kiến thức; tư vấn quản lý, tài chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật)
Trong những năm gần đây, một số công ty kiểm toán đã cung cấp thêm một số loại dịch vụ mới: kiểm toán và định giá; dịch vụ soát xét BCTC; tư vấn tái cấu trúc DN; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ; tư vấn sát nhập và giải thể DN…Tuy nhiên, khả năng cung ứng và tỷ trọng doanh thu của các loại dịch vụ này còn ở mức khiêm tốn.
BẢNG 1: Tình hình Doanh thu (cơ cấu theo loại dịch vụ)
Đơn vị tính: Triệu đồng
|
Chỉ tiêu
|
Năm 2005
|
Năm 2004
|
|
Số tiền
|
Tỷ lệ %
|
Số tiền
|
Tỷ lệ %
|
|
Tổng Doanh thu
|
622.255
|
100
|
461.699
|
100
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
1. Kiểm toán báo cáo tài chính
|
353.879
|
57
|
264.767
|
57
|
|
2. Kiểm toán báo cáo QTVĐT hoàn thành
|
32.782
|
5
|
24.421
|
5
|
|
3. Tư vấn tài chính, thuế, kế toán
|
146.976
|
24
|
105.387
|
23
|
|
4. Dịch vụ tư vấn nguồn nhân lực, tư vấn quản lý, định giá tài sản
|
71.701
|
12
|
52.509
|
11
|
|
5. Bồi dưỡng tài chính, kế toán, kiểm toán
|
4.590
|
0,7
|
3.519
|
0.7
|
|
6. Dịch vụ liên quan khác
|
12.327
|
1,3
|
11.096
|
3,3
|
Theo số liệu trong bảng trên, doanh thu từ hoạt động kiểm toán chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 62%), doanh thu từ các dịch vụ phi kiểm toán còn quá thấp (khoảng 38%) so với các nước phát triển (tại các nước phát triển tỷ lệ doanh thu từ các dịch vụ phi kiểm toán lên tới 90%). Như vậy, khả năng cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán và các dịch vụ gia tăng khác còn ơ rmức hết sức khiêm tốn.
Như vậy, để tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, các DN kiểm toán Việt Nam phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình thông qua việc đa dạng hoá các loại hình dịch vụ cung cấp. Chúng tôi cho rằng áp dụng chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt, có tính sáng tạo và mang lại giá trị mới tăng thêm cho người tiêu dùng sẽ phù hợp hơn chiến lược giành lợi thế cạnh tranh bằng việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp trong thời đại hội nhập. Nhờ lợi thế này, DN có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh đến từ các nước trên thế giới.
- Nguồn nhân lực.
Có thể nói nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty kiểm toán. Sau 15 năm hoạt động, đội ngũ KTV người Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều KTV có kiến thức và chứng chỉ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA Australia…(bảng 2)
BẢNG 2: Tình hình nhân viên
|
Chỉ tiêu
|
Năm 2005
|
Năm 2004
|
|
Số người
|
Tỷ lệ %
|
Số người
|
Tỷ lệ %
|
|
I. Tổng số nhân viên đến 31/12/2005
|
3.897
|
100
|
3.124
|
100
|
|
Trong đó
|
|
|
|
|
|
1. Nhân viên chuyên nghiệp
|
3.091
|
79
|
2.468
|
79
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
1.1. Số người có chứng chỉ kiểm toán viên
|
870
|
28
|
664
|
27
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
1.1.1. Số người vừa có chứng chỉ KTV Việt Nam, vừa có chứng chỉ KTV nước ngoài:
|
57
|
7
|
40
|
6
|
|
- Người Việt Nam
|
40
|
70
|
26
|
65
|
|
- Người nước ngoài
|
17
|
30
|
14
|
35
|
|
1.1.2. Số người chỉ có Chứng chỉ KTV Việt Nam:
|
749
|
88
|
579
|
90
|
|
- Người Việt Nam
|
710
|
98
|
582
|
97
|
|
- Người nứơc ngoài
|
9
|
2
|
15
|
3
|
|
1.1.3. Số người chỉ có chứng chỉ KTV nước ngoài:
|
34
|
5
|
27
|
4
|
|
- Người Việt Nam
|
16
|
47
|
15
|
55
|
|
- Người nước ngoài
|
18
|
53
|
12
|
45
|
|
1.2 Số người chưa có chứng chỉ KTV
|
2.221
|
72
|
1.804
|
73
|
|
2. Nhân viên khác:
|
806
|
21
|
656
|
21
|
Nguồn VACPA
Theo bảng trên, đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp mặc dù tăng nhanh nhưng chiếm tỷ trọng chưa cao so với tổng số nhân viên chuyên nghiệp. Tỷ lệ KTV Việt Nam có chứng chỉ quốc tế còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Ngoài ra, vấn đề chảy máu chất xám từ ngành kiểm toán sang các ngành khác có liên quan khi các công ty, văn phòng đại diện nước ngoài vào Việt Nam ngày một nhiều trong thời gian tới là vấn đề cần được tính tới trong chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lực kiểm toán.
Mục lục bài viết Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam |
|
|
|
|
|