Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Bộ Tài chính: Làm rõ về vấn để tiền lương của lãnh đạo Tổng công ty SCIC và Jetstar Pacific Airlines
Ngân hàng Tiên Phong: Lãi suất cao nhất 10,45%/năm đối với VNĐ và 4,15%/năm đối với tiền gửi USD
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Chất lượng kiểm toán từ góc nhìn xã hội
TCKT cập nhật: 26/03/2009

Kiểm toán là một loại dịch vụ đặc biệt, dịch vụ làm cho người dùng tin, an tâm về chất lượng các con số, an tâm về tính trung thực, khách quan, đầy đủ, hợp pháp, hợp lý, hợp thủ tục của các thông tin kinh tế, tài chính, nhất là các thông tin tổng hợp trên báo cáo tài chính.  Dịch vụ kiểm toán bao gồm dịch vụ kiểm toán công (do Kiểm toán nhà nước hoặc kiểm toán nội bộ ở khu vực công đảm nhận và đối tượng thường là tài sản công, là tài chính nhà nước) và dịch vụ kiểm toán mang tính chất thương mại (còn gọi là kiểm toán khu vực tư, do các đơn vị làm dịch vụ kiểm toán hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và có mục đích lợi nhuận, nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán cho mọi khách hàng có nhu cầu và được pháp luật cho phép).

Đã là dịch vụ (như sản phẩm, lao vụ khác), thì cần phải có chất lượng đảm bảo. Chất lượng đó là do các chủ thể kiểm toán tuân thủ các nguyên tắc kiểm toán và chuẩn mực kiểm toán, có quy trình, phương pháp và đặc biệt là một đội ngũ kiểm toán viên có phẩm hạnh tốt và có năng lực chuyên môn cao, có tính chuyên nghiệp trong thừa hành nhiệm vụ. Xã hội công dân và xã hội tiêu dùng đều có cái nhìn sắc nhịn và những tiêu chí đánh giá khắt khe đối với chất lượng dịch vụ kiểm toán. Bởi vì, chất lượng dịch vụ kiểm toán khi được đề cao sẽ giúp cung cấp những thông tin đáng tin cậy để người dùng tìm ra các quyết định tương ứng. Quyết định đó đôi khi sẽ là sự thành bại của một quyết sách đầu tư, một sự chọn lọc đối tác, một giải pháp về tài chính, về thị trường…Người sử dụng dịch vụ kiểm toán tùy vào cương vị của họ, tùy hoàn cảnh làm việc mà có những nhìn nhận khác nhau về chất lượng dịch vụ kiểm toán. Song, tựu trung lại, theo cách tổng kết và trải nghiệm của chúng tôi, các tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán từ góc nhìn xã hội có thể là:

1. Chất lượng dịch vụ kiểm toán (CLDVKT) trước hết được đặt trên nền tảng của mục tiêu kiểm toán. Cuộc kiểm toán tiến hành nhằm mục đích gì, có phải nó đi sâu vào kiểm tra, phân tích để đánh giá khách quan chất lượng các thông tin được kiểm toán để cung cấp những thông tin đã được kiểm chứng, đáng tin cậy hay không, hay chỉ nhằm “hợp lý hóa”, “thủ tục hóa” những thông tin lẽ ra phải được nhìn nhận là còn khiếm khuyết, có sai sót, thậm chí có gian lận và không đáng tin cậy. Như vậy, CLDVKT phải có cái nền; là sự vô tư, khách quan, trung thực, có chính kiến và mục tiêu rõ ràng.

2. CLDVKT phải phản ánh tính độc lập, khách quan của chủ thể kiểm toán. Kết luận kiểm toán thể hiện tư cách, tư thế, quan điểm và cái nhìn độc lập của chủ thể kiểm toán. Tính độc lập đó không thể bị xâm hại một cách vô nguyên tắc và phi chuẩn mực, thậm chí phi pháp. Không thể cho định kiến, thành kiến, sự “chỉ đạo” thiếu khách quan hoặc vụ lợi chi phối cuộc kiểm toán cũng như chi phối các kết luận, đánh giá, xác nhận kiểm toán. Tính độc lập là một nội hàm cơ bản nhất, có tính sống còn của một kết luận kiểm toán có chất lượng. Nhờ đó mà người sử dụng có thể an tâm rằng mình đã không bị nhà kiểm toán làm cho mình bị chi phối, bị thiên lệch theo.

3. CLDVKT thể hiện chủ thể kiểm toán tuân thủ pháp luật, nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán. Điều này đảm bảo cho sự công bằng, sự chuẩn tắc và đáng tin cậy, vì thước đo chuẩn mực đã được pháp luật và cả thế giới cộng đồng kiểm toán thừa nhận. Ưu thế này làm cho người soát xét CLDVKT từ mọi góc nhìn đều có thể và phải thừa nhận vì chủ thể đã sử dụng “thước đo chung về chất lượng” để thẩm định, đánh giá và kết luận.

4. CLDVKT thể hiện mức độ thành thạo, chuyên nghiệp của đội ngũ KTV khi họ nắm bắt được, có bản lĩnh và kỹ năng sử dụng thành thạo hệ thống phương pháp kiểm toán tùy htoe tình hình của đối tượng kiểm toán và nội dung kiểm toán cụ thể. Điều này đặc biệt quan trọng vì KTV luôn phải đối mặt với rất nhiều cam go, rủi ro và cạm bẫy. Họ phải có kỹ năng, có phương pháp và dày dạn kinh nghiệm để ứng xử với từng tình huống kiểm toán cụ thể. Sự thành thạo và tính chuyên nghiệp là yếu tố cấu thành và đảm bảo cho mọi đánh giá, kết luận đều bao hàm tính thận trọng cần thiết.

5. CLDVKT đòi hỏi mọi đánh giá, nhận định và kết luận đều phải được đảm bảo bằng những bằng chứng xác thực. Những bằng chứng kiểm toán luôn luôn phải được xác lập với đầy đủ các yếu tố cấu thành, nó luôn được soát xét, tái thẩm định để có một bằng chứng chính xác, phản ánh đúng thực trạng của tình hình. Nhờ đó, kết luận được đảm bảo về tính pháp lý, tính hợp lý, sự trung thực và đáng tin cậy. Kết luận có cơ sở là nguồn cội, quyết định CLDVKT.

6. CLDVKT thể hiện ở chỗ, báo cáo kiểm toán phản ánh đúng thực trạng tài chính của đơn vị được kiểm toán. Thực trạng đó thể hiện qua các chỉ tiêu về nguồn vốn, tài sản, tình hình công nợ, các quan hệ tài chính khác, tình hình chi phí, giá thành, kết quả kinh doanh của đơn vị. Qua các chỉ tiêu đó, ta thấy rõ sức mạnh tài chính, mức độ lành mạnh của các quan hệ tài chính, tính khách quan, trung thực của báo cáo tài chính được công bố. Như vậy, tấm gương thực về tài chính của đơn vị được phản ánh trong bản báo cáo bạch tài chính là đáng tin cậy và nhờ đó, các đối tác, các nhà đầu tư và chủ thể quản lý có thể dựa vào đó để ra các quyết định phù hợp.

7. CLDVKT cuối cùng có thể được thể hiện khi kết luận kiểm toán là căn cứ cho chủ sở hữu, chủ thể quản lý khác, cho nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật và công dân thấy an tâm về các thông tin liên quan đến đối tượng kiểm toán. Nhờ đó, chủ sở hữu, nhà nước, công dân mới có thể thừa nhận sự quang minh, chính đại của các thông tin về tài chính, về hoạt động hiện thực của các đơn vị. Thí dụ, công dân có thể an tâm về nền tài chính công mà nguồn thu cơ bản là từ sự đóng thuế của họ. Nhà nước an tâm về sự điều hành, quản lý, sử dụng tài sản công, nguồn công quỹ cho các mục tiêu kinh tế và xã hội. Các quốc gia có quan hệ tài chính an tâm về sự trong sạch của bộ máy quản lý nước sở tại, từ đó gia tăng các quan hệ hợp tác, đầu tư, viện trợ…

Theo bảy tiêu chí đó, xã hội sẽ thấy rõ tác động có thật của kiểm toán. Điều này lý giải tại sao khi soi xét từ góc nhìn xã hội, các tiêu chí phản ánh chất lượng kiểm toán trở nên sáng rõ hơn, dung dị hơn và tự nó trở thành đòi hỏi bức thiết đối với quá trình nâng cao CLDVKT mà mọi tổ chức kiểm toán cũng như KTV phải nỗ lực. Trong toàn bộ hệ thống kiểm toán quốc gia, KTV nhà nước có vai trò quan trọng nhất. KTV nhà nước phải làm gương và nêu ra bài học sáng tỏ về quan niệm, con đường, giải pháp nâng cao CLDVKT công của mình, nhờ thế mà tác động đến toàn bộ hệ thống kiểm toán. Sự mong đợi đối với việc nâng cao CLDVKT của xã hội là có thực và sẽ ngày càng được đề cao trong hoàn cảnh nền kinh tế của ta trở thành nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh và Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng sử dụng có hiệu quả hơn công cụ kiểm toán. Đó thực sự là một giải pháp hữu hiệu để thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, trước hết là dân chủ và công bằng về kinh tế tài chính.

PGS.TS Nguyễn Đình Hựu (Tạp chí Kiểm toán)
Tapchiketoan.com

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Kế toán
Thông tư 244/2009 mới sửa đổi chế độ kế toán doanh nghiệp
Chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính
Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Giải pháp đưa kế toán và kiểm toán Việt Nam ngang tầm khu vực quốc tế
Tăng cường công tác đăng ký và quản lý hành nghề kế toán
Kiểm toán
Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
Cần có Luật Kiểm toán độc lập
Những điều cần chú ý khi kiểm toán BCTC trong điều kiện kinh tế khủng hoảng
Từ 2010: DN sẽ phải đăng tải toàn văn BCTC kiểm toán
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Những giải pháp cơ bản về cơ chế giám sát thị trường tài chính Việt Nam nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Những giải pháp cơ bản về cơ chế giám sát thị trường tài chính Việt Nam nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Thuế - phí
Quy định mới về khấu trừ chi phí quảng cáo, tiếp thị: Cơ hội và thử thách đối với DN
Tìm hiểu về thuế trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp