|
(Bài viết có 2 trang. Bạn đang xem trang 2)
Về hồ sơ kiểm toán:
Hồ sơ kiểm toán là tài liệu phản ánh toàn bộ quá trình kiểm toán, mọi diễn biến xảy ra trong cả 4 bước của quá trình kiểm toán phải được ghi chép trong hồ sơ kiểm toán. Quy định của Tổng KTNN về hồ sơ kiểm toán rất cụ thể về từng loại hồ sơ kiểm toán mà các KTV, các đoàn kiểm toán phải thực hiện trong suốt quá trình kiểm toán. Để đảm bảo chất lượng của hồ sơ kiểm toán thì yêu cầu thứ nhất đặt ra là tính đầy đủ của các loại hồ sơ theo quy định; yêu cầu thứ hai là nội dung ghi chép và phản ánh trong hồ sơ phải trung thực và toàn diện tình hình kiểm toán của các thành viên đoàn kiểm toán; yêu cầu thứ ba là hồ sơ kiểm toán phải phản ánh được nội dung và kết quả công tác kiểm soát chất lượng của các cấp kiểm soát.
Tính đầy đủ của hồ sơ kiểm toán thể hiện ở việc tập hợp và lưu trữ các loại hồ sơ kiểm toán do đoàn kiểm toán lập theo quy định của KTNN và các tài liệu mà kiểm toán viene thu thập được trong quá trình kiểm toán, như các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán của các đơn vị được kiểm toán, các biên bản kiểm toán, các bằng chứng kiểm toán và các tài liệu có liên quan,…
Tính trung thực và toàn diện của hồ sơ kiểm toán thể hiện ở việc toàn bộ nội dung và kết quả công việc kiểm toán của các thành viên đoàn kiểm toán phải được ghi chép, phản ánh cụ thể, chi tiết trong hồ sơ kiểm toán; mọi sự thay đổi về phát hiện kiểm toán, đánh giá, kết luận của kiểm toán viên đều phải được giải thích rõ ràng nguyên nhân; các thông tin, số liệu tình hình tài chính của đơn vị phải được trích dẫn nguồn tham chiếu…
Yêu cầu thứ ba đặt ra là để đảm bảo chất lượng kiểm toán nói chung và chất lượng hồ sơ kiểm toán nói riêng là hồ sơ kiểm toán phải thể hiện được nội dung và kết quả của công tác kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán. Công việc soát xét chất lượng kiểm toán của các cấp kiểm soát ở mỗi giai đoạn đều phải được ghi chép và lưu lại bằng văn bản; các sai sót, các vấn đề không bình thường phát hiện trong quá trình kiểm tra, soát xét chất lượng cũng như các yêu cầu giải quyết của các cấp kiểm soát phải được phản ánh trong hồ sơ kiểm toán.
Về báo cáo kiểm toán:
Yêu cầu cơ bản đặt ra với báo cáo kiểm toán là phải phù hợp với chuẩn mực báo cáo và quy định về báo cáo kiểm toán trong Luật KTNN, cụ thể:
Thứ nhất, Báo cáo kiểm toán phải trình bày kết luận về tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Yêu cầu về việc xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính được kiểm toán đã được quy định rất rõ trong Luật Kiểm toán nhà nước, cụ thể Điều 14 quy định: “Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước”, và tại Khoản 2, Điều 4 quy định: “Kiểm toán BCTC là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá xác nhận tính đúng đắn trung thực của BCTC”, Khoản 1 Điều 9 quy định: “Báo cáo kiểm toán của KTNN xác định tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách,…”. Hơn nữa, Chuẩn mực kiểm toán số 14 hướng dẫn về kết luận kiểm toán như sau: “Kết luận kiểm toán là các ý kiến đánh giá tổng quát, các quan điểm của KTV về các số liệu của BCTC và các thông tin tài chính có liên quan của đơn vị…”. Như vậy, trên cả hai phương diện luật định và hướng dẫn chuyên môn nghề nghiệp đều đặt ra yêu cầu cho đoàn kiểm toán trong việc xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính được kiểm toán.
Thứ hai, theo quy định của luật KTNN cũng như Luật NSNN thì Báo cáo kiểm toán là một trong những căn cứ cho Hội đồng nhân dân sử dụng để phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương (Khoản 2 Điều 9 Luật KTNN). Vì việc xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo quyết toán thì đoàn kiểm toán phải xác định được giá trị cụ thể của các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo quyết toán ngân sách địa phương.
Thứ ba, đối với lĩnh vực kiểm toán tuân thủ, ngoài việc đánh giá và kết luận về tính tuân thủ pháp luật của đơn vị được kiểm toán thì KTNN có trách nhiệm kiến nghị xử lý tập thể, cá nhân có sai phạm trong quản lý tài chính.
KTNN với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính Nhà nước có trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Luật pháp đã trao cho KTNN các quyền hạn để thực thi chức năng của mình một cách có hiệu quả nhất, trong đó có quyền: “Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được làm rõ thông qua hoạt động kiểm toán” (Khoản 5, Điều 16 Luật KTNN); đây vừa là quyền nhưng vừa là trách nhiệm của KTNN phải thực hiện quyền này một cách tốt nhất. Do vậy, để tăng cường tính hiệu lực pháp lý của kết luận, kiến nghị kiểm toán cũng như khẳng định và nâng cao uy tín của KTNN đối với công chúng thì ngoài việc phát hiện các tồn tại, sai sót của đơn vị được kiểm toán, KTNN phải các có kiến nghị xử lý một cách thích đáng, đúng người, đúng việc các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là những vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Thứ tư, các kiến nghị của đoàn kiểm toán trình bày trong báo cáo kiểm toán không những phải phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp kết quả kiểm toán, đánh giá, kết luận kiểm toán mà còn phải thể hiện được các ý kiến tư vấn sắc sảo, các ý kiến xử lý tài chính phải đảm bảo tính khả thi.
Một số ý kiến đề xuất giải pháp để đảm bảo tiến độ và nâng cao chất lượng kiểm toán.
+ Cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định về thời gian cung cấp báo cáo tài chính cho Kiểm toán Nhà nước để thực hiện kiểm toán, đặc biệt là quy định về thời hạn gửi báo cáo quyết toán ngân sách chính thức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
+ Các KTNN chuyên ngành, khu vực cần chủ động liên hệ với các đơn vị được kiểm toán thuộc phạm vi, địa bàn kiểm toán được phân công để thường xuyên thu thập, cập nhật thông tin; xây dựng cơ sở dữ liệu một cách chi tiết, kịp thời về các đơn vị được kiểm toán.
+ Các KTNN chuyên ngành, khu vực cần rút ngắn thời gian lập bckt và các Vụ chức năng cần có sự phối hợp tốt trong việc xét duyệt Báo cáo kiểm toán, giảm bớt các thủ tục hành chính để đảm bảo việc phát hành báo cáo kiểm toán đúng thời hạn theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước.
+ KTNN cần sớm xây dựng và ban hành Quy chế kiểm soát chất lượng kiểm toán kèm theo Quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán để phân định rõ trách nhiệm và quyền han của các cấp kiểm soát và thống nhất trình tự, phương pháp thực hiện công tác kiểm soát trong toàn ngành. Các KTNN chuyên ngành, khu vực cần đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kiểm toán, đặc biệt là công tác kiểm tra, kiểm soát của kiểm toán trưởng, Trưởng đoàn kiểm toán và Tổ trưởng Tổ kiểm toán.
Các sai phạm được phát hiện thông qua kiểm tra hồ sơ kiểm toán dứt khoát phải được xử lý thỏa đáng. Kết quả kiểm tra hồ sơ kiểm toán của Vụ Chế độ và KSCLKT cũng như của các KTNN chuyên ngành, khu vực phải được sử dụng như căn cứ quan trong để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của KTV và bình xét các danh hiệu thi đua đối với kiểm toán viên và các đơn vị KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực.
+ Nghiên cứu cải tiến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm tăng cường khả năng, trình độ cho KTV theo hướng tập trung hướng dẫn thật sâu kỹ năng nghề nghiệp liên quan đến các quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, các quy định về chuẩn mực KTNN, các quy định về quy trình kiểm toán, các quy định về mẫu biểu hồ sơ kiểm toán và các quy định khác liên quan tới hoạt động kiểm toán. Quy định trách nhiệm cho các đơn vị trong việc nghiên cứu chuẩn bị tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghề nghiệp cho kiểm toán viên, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra năng lực, trình độ của KTV.
+ Các KTNN chuyên ngành, khu vực và các đơn vị chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác tập huấn, hướng dẫn chế độ mới về hoạt động kiểm toán, đặc biệt là việc ghi chép, lập và lưu trữ hồ sơ kiểm toán theo quy định cho KTV; nghiên cứu, đề xuất với Tổng KTNN những giải pháp cụ thể về việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện phương pháp kiểm toán, hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế hoạt động kiểm toán.
+ Các Đoàn kiểm toán cần quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên Đoàn kiểm toán đối với hoạt động kiểm toán, trong đó đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KTV trong thực thi nhiệm vụ kiểm toán được giao; trong thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán; trong bày tỏ ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị về nội dung kiểm toán được giao; trong ghi nhật ký kiểm toán và các tài liệu làm việc khác; trong lưu trữ bảo quản hồ sơ kiểm toán; đề cao vai trò độc lập, sang tạo, bày tỏ ý kiến của từng KTV trong hoạt động kiểm toán.
+ Lãnh đạo KTNN cần có sự chỉ đạo và xử lý kiên quyết đối với các đoàn kiểm toán trong việc thực hiện mục tiêu kiểm toán đã đề ra trong Kế hoạch kiểm toán, trong đó phải đạt được các mục tiêu cơ bản là: xác định tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán; xác định rõ địa vị được kiểm toán; xác định rõ địa chỉ cụ thể các sai phạm của đơn vị được kiểm toán và kiến nghị xử lý một cách thỏa đáng đúng người, đúng việc đối với các hành vi vi phạm pháp luật.
+ Tăng cường công tác tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm trong việc áp dụng các quy định về hoạt động kiểm toán đến từng KTV nhằm thống nhất cách hiểu, cách làm cũng như phát hiện những bất cập để bổ sung, sửa đổi kịp thời.
THS. Trần Quang Huy-Vụ Chế độ và Kiểm soát CLKT (Tạp chí kiểm toán)
Tapchiketoan.com
Mục lục bài viết Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán và đảm bảo tiến độ kiểm toán |
|
|
|
|
|