Một số ý kiến về : Củng cố và kiện toàn bộ máy kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế
TCKT cập nhật: 12/01/2010
Sự cần thiết phải củng cố và toàn bộ máy kiểm toán nội
bộ trong các tập đoàn kinh tế
Chuyển đổi các Tổng Công ty mạnh sang hoạt
động Tập đoàn kinh tế, thực hiện kinh doanh đa ngành, có sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế là một trong những biện pháp cơ bản trong tiến trình chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN của Nhà nước ta. Để quản lý
tốt nguồn lực của nhà nước, đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư, khách hàng…có
liên quan đến các doanh nghiệp, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp kiểm soát
tốt hoạt động SXKD của mình, một xu hướng tất yếu là Nhà nước và các doanh
nghiệp phải tăng cường công tác kiểm soát bằng việc thiết lập và vận hành một
cách hiệu quả hoạtđọng kiểm toán. Trong đó không thể phủ nhận được vai trò của
kiểm toán nội bộ (KTNB).
Kiểm toán nội bộ là công cụ của lãnh đạo các
Doanh nghiệp trong Tập đoàn kiểm toán, đánh giá, phân tích tình hình hoạt động
của doanh nghiệp, giúp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tuân thủ
đúng quy định của pháp luật và nghị quyết, quyết định của Lãnh đạo doanh
nghiệp; đồng thời kiểm tra, đánh giá thông tin trên các báo cáo tài chính, báo
cáo quản trị, đảm bảo báo cáo tài chính được kịp thời và phản ánh trung thực,
hợp lý tình hình tài chính,kết quả hoạt động kinh doanh theo các chế độ. Đối
với các TậTâpp đoàn kinh tế được chuyển đổi từ các Tổng công ty Nhà nước thì việc củng cố và kiện toàn lại
càng bức thiết hơn vì lý do sau:
-Tập đoàn kinh tế có tiềm lực tài chính
mạnh, qui mô vốn lớn, hàng năm thực hiện một khối lượng đầu tư lớn. Điều này
đòi hỏi Tập đoàn phải có công cụ quản lý đủ mạnh để kiểm soát việc bảo toàn và
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư thông qua hoạt động kiểm toán Báo cáo tài
chính và kiểm toán hoạt động.
-Tập đoàn kinh tế thường là đa sở hữu trong
đó sở hữu Nhà nước đóng vai trò chi phối bên cạnh sở hữu của các thành phần kin
tế khác. Tính đa sở hữu về vốn đòi hỏi tính minh bạch cao trong quản lý tài
chính và công bố các thông tin tài chính. Điều này đòi hỏi phải có kiểm toán
hoạt động và kiểm toán báo cáo tài chính.
- Tập đoàn kinh tế có nhiều công ty con,cơ
cấu tổ chức đa dạng, kinh doanh đa ngành, phạm vi hoạt động trên toàn quốc và
cả nước ngoài, có lực lượng lao động lớn, đòi hỏi phải có sự đánh giá hiệu quả
đối với từng bộ phận, từng loại hình đơn vị, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
từng địa bàn thông qua kiểm toán hoạt động và kiểm toán trong lĩnh vực Báo cáo
tài chính hợp nhất.
- Tập đoàn kinh tế có sự phân quyền cao giữa
Công ty mẹ và các công ty con đòi hỏi phải tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm
soát thông qua hoạt động kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động nhằm phát
hiện, ngăn chặn kịp thời sai sót,
tiêu cực trong công tác quản lý, tránh rủi ro cho doanh nghiệp.
Căn
cứ để củng cố và kiện toàn bộ máy kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế
Việc củng cố và kiện toàn bộ máy KTNB trong
các Tập đoàn kinh tế phải căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, mô hình
tổ chức và kinh nghiệm của các Tập đoàn kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Căn
cứ vào quy định hiện hành của Nhà nước về tổ chức và hoạt động của bộ máy KTNB:
Quy chế và các hướng dẫn hiện hành về Kiểm
toán nội bộ (Quyết định 832/TC-QĐ-CĐKT ngày 28/10/1997; Thông tư 52/1998/TT-BTC
ngày 14/6/1998; Thông tư 171/1998/TT-BTC ngày 222/12/1998)quy định: Tùy thuộc
và quy mô sản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động tập trung hay phân tán, điều
kiện cụ trế và trình độ năng lực của đội ngũ kế toán… doanh nghiệp có thể lựa
chọn bộ máy KTNB cho phù hợp và có hiệu quả thiết thực. Bộ máy KTNB chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của Tổng giám đốc (Giám đốc doanh nghiệp).Điều 6 Luật kiểm toán
Nhà nước quy định : Các cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý và sử dụng ngân sách,
tiền vốn và tài sản Nhà nước.
Căn
cứ vào quy mô tổ chức của tập đoàn kinh tế:
Các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam được thành
lập do Thủ tường Chính phủ quyết định, được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ
chức lại Tổng công ty nhà nước và các đơn vị thành viên, thường có cơ cấu như
sau:
Công ty mẹ thường là Công ty Nhà nước, có
chức năng đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối các
công ty con thông qua đầu tư vốn, nghiệp vụ,công nghệ, thương hiệu, thị trường…
Bộ máy quản lý của Tập đoàn bao gồm: Hội
đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng đốc,
các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc.
Các công ty con: Bao gồm các Tổng Công ty;
một số công ty Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; một số công ty Tập đoàn nắm
giữ 50% vốn điều lệ và một số Công ty liên doanh với nước ngoài; các đơn vị sự
nghiệp.
Căn
cứ vào quy định của pháp luật về trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp trong
việc quản lý, bảo toàn, phát triển vốn của doanh nghiệp:
Theo quy định của Luật doanh nghiệp, Nghị
định của Chính phủ về tổ chức, quản lý Công ty Nhà nước và chuyển đổi Tổng Công
ty Nhà nước, Công ty Nhà nước độc lập theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con; Quy
chế quản lý tài chính của Công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà đầu tư doanh
nghiệp khác, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc “ chịu vốn nhà nước giao” và “
Thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ của chủ sở hữu cổ phần, vốn góp của Công ty mẹ ở
các Công ty cổ phần, vốn góp của Công ty mẹ”.
Căn
cứ vào thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy kiểm toán nội bộ của Tổng
công ty Nhà nước (tiền thân của Tập đoàn kinh tế)
- Về tổ chức bộ máy: Tại Tổng công ty có ban
KTNB trực thuộc Tổng giám đốc Tổng Công ty; tại các đơn vị thành viên có tổ
chức bộ máy KTNB, (phòng, tổ) hoặc Kiểm toán vên trực thuộc Giám đốc.
- Cơ chế, chính sách hoạt động kiểm toán nội
bộ: Thông thường các Tổng Công ty đều căn cứ vào quy định của Nhà nước để có
ban hành cơ chế,chính sách hoạt động KTNB phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh
doanh của mình giúp cho hoạt động kiểm toán đồng bộ, thống nhất, phát huy hiệu
quả cao, như: Quy chế KTNB; văn bản hướng dẫn các đơn vị thành viên tổ chức bộ
máy và hoạt động KTNB; quy trình kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài
chính; quy trình kiểm toán, thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tư thuộc vốn
phân cấp cho Giám đốc các đơn vị thành viên; các văn bản hướng dẫn các đơn vị
thành viên thực hiện bào cáo kiểm toán tài chính hàng năm…
- Kết quả chính hoạt động KTNB trong thời
gian qua:
Ban KTNB của Tổng Công ty thường thực hiện
kiểm toán báo cáo tài chính năm của các khối tại Tổng công ty và kiểm toán báo cáo tài chính của các đơn vị
thành viên ; kiểm toán tuân thủ toàn diện,kiểm toán chuyên đề của đơn vị thành
viên; kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư một số công trình tồn đọng, phức
tạp. Đối với KTNB tại các đơn vị thành viên: Tự kiểm toán báo cáo tài chính năm
của đơn vị mình; kiểm toán tuân thủ chế độ tài chính, kế toán tại văn phòng đơn
vị trực thuộc.
Căn
cứ vào kinh nghiệm về tổ chức hoạt động của bộ máy kiểm toán nội bộ ở các Tập
đoàn kinh tế lớn trên thế giới:
Hiện nay, các Tập đoàn kinh tế trên thế giới
thường tổ chức bộ máy KTNB theo 3 mô hình sau:
Mô hình thứ nhất: Ủy ban Kiểm toán (UBKT)
trực thuộc Hội đồng quản trị. UBKT gồm từ 3-5 thành viên, giúp cho UBKT là bộ
phận KTNB. Kiểm toán nội bộ là bộ phận trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ kiểm
toán theo yêu cầu của UBKT.Mô hình này thường được áp dụng đối với các Tập đoàn
đã được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Ưu điểm: Đây là mô hình phổ thông và tối ưu
nhất.Mô hình này đảm bảo tính độc lập, khách quan và có quyền lực cao trong
công tác kiểm toán.Thông qua UBKT, Hội đồng quản trị sẽ thực hiện có hiệu quả
trách nhiệm quản lý,giám sát công tác tài chính- kế toán trong Tập đoàn.
Nhược điểm: Do Hội đồng quản trị Tập đoàn
hoạt động theo định kỳ thường xuyên chỉ đưa ra các quyết sách lớn, không trực
tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. Vì lẽ đó, kết quả
kiểm toán trình lên Hội đồng quản trị thường xử lý chậm, làm giảm tính hiệu quả
của hoạt động kiểm toán.
Mô hình thứ hai: Bộ phàn Kiểm toán nội bọ
trực thuộc ban kiểm soát.
Ưu điểm: Bộ phận KTNB trực thuộc Ban kiểm
soát thuộc Hội đồng quản trị bảo đảm được tính độc lập cao cho hoạt động kiểm
toán.Ban kiểm soát có công cụ đủ mạnh để thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm
theo quy định của pháp luật và Điều lệ của Tập đoàn.
Nhược điểm: Tính quyền lực, tính hiệu quả
,kịp thời của KTNB không cao như mô hình thứ nhất do KTNB trực thuộc Ban Kiểm
soát giúp việc cho Hội đồng quản trị.
Mô hình thứ ba: Bộ phận KTNB trực thuộc Tổng
giám đốc:
Ưu điểm: Đảm bảo sự độc lập và tính độc lập
của KTNB đối với những đối tượng được kiểm toán; KTNBcó điều kiện thường xuyên
tiếp cận, phát hiện các sai sót trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của Tập
đoàn để tư vấn cho đối tượng được Kiểm toán và báo cáo với Tổng giám đốc các
biên pháp đê khắc phục, xử lý kịp thời.
Nhược điểm: Do Tổng Giám đốc là người trực
tiếp điều hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh của Tập đoàn trong khi KTNB
là bộ phận giúp cho Tổng giám đốc kiểm tra, đánh giá hoạt động sản xuất – kinh
doanh nên có những ảnh hưởng nhất định đến tính độc lập, khách quan trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ của bộ phận
KTNB.
Mô
hình tổ chức và hoạt động của bộ máy kiểm toán nội bọ trong các tập đoàn kinh
tế
Về nguyên tắc tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ:
Việc thiết lập bộ máy và nội dung hoạt động
của KTNB phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Kiểm toán nội bộ phải trực thuộc cấp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp và độc lập cao về chuyên môn với các bộ phận khác trong dơn vị
- Phù
hợp với đặc điểm tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp;
- Kế
thừa tổ chức bộ máy và hoạt động KTNB của Tổn Công ty Nhà Nước;
- Hiệu
quả trong tổ chức hoạt động KTNB.
Về việc lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy KTNB phù hợp điều kiện thực tế
của Tập đoàn kinh tế Việt Nam:
- Mô
hình thứ nhất (mô hình UBKT thuộc Hội đồng quản trị) tuy có nhiều ưu điểm và
phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng hiện nay các Tập đoàn kinh tế của Việt Nam
chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán như các Tập đoàn khác trên Thế
giới áp dụng mô hình này.
- Mô
hình thứ hai (mô hình KTNB thuộc Ban kiểm soát): Về mặt pháp lý, có thể áp dụng
được đối với Tập đoàn kinh tế của Việt Nam song mô hình này không mang tính phổ
thông, rất ít Tập đoàn trên thế giới áp dụng do có nhiều nhược điểm, như: Tính
quyền lực, tính hiệu quả, kịp thời của KTNB không cao.
- Mô
hình thứ ba (mô hình KTNB thuộc Tổng giám đốc): Tuy có hạn chế nhất định về tính độc lập trong hoạt động chuyên môn
song vẫn đảm bảo được yêu cầu về tính độc lập của hoạt động kiểm toán. Về mặt
pháp lý cho phép áp dụng đối với Tập đoàn kinh tế, đồng thời mô hình này cũng
phát huy được tính quyền lực cao của hoạt động kiểm toán. Mặt khác KTNB có điều
kiện thường xuyên tiếp cận, phát hiện các sai sót trong hoạt động sản xuất-kinh
doanh của Tập đoàn để tư vấn cho đối tượng được kiểm toán và báo cáo Tổng giám
đốc có biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời. Mô hình này đã được kiểm nghiệm qua
thực tế và đảm bảo được tính kế thừa khi Tổng công ty Nhà nước chuyển sang mô
hình Tập đoàn.
Cụ
thể như sau:
- Tại
công ty mẹ: Thành lập ban KTNB gồm: Trưởng ban, các phó trưởng ban và một số
kiểm toán viên nội bộ. Số lượng phó trưởng ban và số lượng, chức danh kiểm toán
viên nội bộ do Tổng giám đốc quyết định.
- Tại
các công ty con: Thành lập Phòng(ban) kiểm toán nội bộ có Trưởng phòng(ban),
các phó trưởng phong (ban) và số lượng, chức danh kiểm toán viên nội bộ do Tổng
goám đốc (tổng) công ty quyết định.
Về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của KTNB
trong Tập đoàn kinh tế:
- KTNB trong Tập đoàn kinh tế thực hiện đầy đủ
4 chức năng:
1.Kiểm
tra: Kiểm tra tính tuân thủ của hệ thống quản lý đối với chính sách, chế độ của
nhà nước, của đơn vị được kiểm toán.
2.Xác
nhận: Xác nhận tính đầy đủ, trung thực và hợp lý của các số liệu, tài liệu kiểm
toán, các báo cáo tài chính và các tài liệu báo cáo khác của đơn vị được kiểm
toán.
3.Đánh
giá: Trên cơ sở kết quả kiểm toán, đưa ra những kết luận, đánh giá việc tuân
thủ pháp luật, chính sách, chế độ, hiệu quả của hoạt động của đơn vị được kiểm
toán.
4.Tham
mưu, tư vấn: Tham mưu, tư vấn cho Lãnh đạo doanh nghiệp trong công tác quản lý
nhằm khắc phục những tồn tại và đề suất những biện pháp nâng cao chất lượng,
hiệu quả của quản lý kinh tế, tài chính và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Về
nhiệm vụ của KTNB
1.Kiểm
tra tính phù hợp, hiệu quả và hiệu lực của hệ thống kiểm toán nội bộ của các
đơn vị được kiểm toán.
2.Kiểm
tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt là kiểm
tra tính tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kiểm toán của nhà
nước; nghị quyết, quyết định của hội đòng quản trị, Tổng giám đốc công ty
mẹ,(Tổng) giám đốc công ty con.
3.Kiểm
tra đánh giá và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài
chính trên báo cáo tài chinh, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình (Tổng)
giám đốc ký duyệt.
4.Phát
hiện những tồn tại, sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý,bảo vệ tài sản của
đơn vị được kiểm toán và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại; cải tiến,
hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của tập đoàn nói chung và đơn
vị được kiểm toán nói riêng.
Về
quyền hạn của KTNB:
1.Được
quyền yêu cầu cá nhân và các đơn vị thuộc phạm vi đươch kiểm soát cung cấp
thông tin, tài liệu để phục vụ cho công tác kiểm toán.
2.Được
độc lập về chuyên môn nghiệp vụ. Trường hợp cần thiết có quyền yêu cầu sự hỗ
trợ về chuyên môn và nhân sự của các bộ phận chức năng.
3.Được
quyền kiến nghị với các cấp lãnh đạo trong Tập đoàn các bộ phận chức năng nhăm
nâng cao hiệu quả các mặt hoạt động sản xuất-kinh doanh cho công tác quản lý
điều hành của công ty mẹ và công ty con.
Về
phạm vị kiểm toán:
- Bộ phận KTNB cho công ty mẹ trực tiếp kiểm toán tại:
+ Công ty mẹ và các đơn vị trực thuộc;
+ Các công ty do tập đoàn nắm giữ 100% vốn
điều lệ;
+ Các công ty do Tập đoàn nắm giữ trên 50% vốn
điều lệ;
+ Các đơn vị sự nghiệp.
Đây là các là các đơn vị mà công ty mẹ- Tập
đoàn nắm giữ quyền sở hữu tài sản hoặc nắm quyền chi phối. Tại các cơ quan này,
bộ phận KTNB có thể thực hiện đầy đủ các loại kiểm toán: Báo cáo tài chính,
tuân thủ hoạt động; thực hiện kiểm toán thường xuyên hay đột xuất; kiểm toán
toàn diện hay theo chuyên đề;
- Bộ phận KTNB cho công ty con trực tiếp kiểm toán tai:
+ Các công ty con;
+ Các đơn vị trực thuộc.
Về
nội dung kiểm toán
- Kiểm toán tuân thủ :
+ Kiểm tra tinh tuân thủ pháp luật, chính
sách, chế độ tài chính, kế toán, chế độ quản lý của Nhà nước và tình hình chấp
hành các chính sách, nghị quyết, quyết định, quy định của Lãnh đạo Tập đoàn và
các công ty con.
+ Kiểm tra tinh tuân thủ các quy định, nguyên
tắc, quy trình nghiệp vụ thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như từng khâu công
việc, của từng biện pháp trong hệ thống kiểm toán nội bộ ở Công ty mẹ và các
công ty con.
+ Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, các chính
sách, các chuẩn mực kế toán từ khâu lập chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản,
ghi sổ kế toán, tổng hợp thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế
toán quản trị đến lưu trữ tài liệu kế toán…ở Tập đoàn và các công ty con.
- Kiểm toán hoạt động :
+ Kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng
một cách tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lức ( nhân lực, vật tư, hàng hóa, tài
sản, tiền vốn, lợi thế kinh doanh…) của Tập đoàn các công ty con.
+ Kiểm tra, đánh giá có hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh; phân phối và sử dụng nguồn thu nhập; Kiểm toán các dự án
đầu tư xây dựng; kết quả bảo toàn và phát triển vốn.
+ Kiểm tra,đánh giá tinh hiệu quả của hoạt
động của các bộ phận chức năng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của
tập đoàn, các công ty con.
- Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị:
+ Kiểm tra và xác nhận tinh kịp thời, đầy
đủ,khách quan độ tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, trước
khi tổng giám đốc ký duyệt và công bố,
+ Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính,
báo cáo kế toán quản tri, đưa ra những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho qua
trình hoạt động sản xuất-kinh doanh ở công ty mẹ và các công ty con nhằm đảm
bảo tính hợp lý và hiệu quả.
Về
mối quan hệ giữa bộ phận KTNB với lãnh đạo, các bộ phận chức năng khác trong
doanh nghiệp với kiểm toán bên ngoài (KTMM; KTĐL):
1.Mối quan hệ với lãnh đạo doanh nghiệp:
- Lãnh
đạo:
+ Quyết định tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và số lượng, chức danh hoạt động của bộ máy KTNB;
+ Phê duyệt kế hoạch công trình công tác;
trực tiếp chỉ đạo hoạt động của KTNB;
+ Trực tiếp tiếp nhận và cho ý kiến chỉ đạo
và báo cáo kết quả kiểm toán.
- KTNB là bộ phận chức năng giúp việc cho lãnh đạo :
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác,
trình lãnh đạo phê duyệt;
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch công tác và các
nhiệm vụ được lãnh đạo giao;
+ Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ và đề
xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác quản lý, hiệu
quả sản xuất kinh doanh;
+ Xây dựng chính sách kiểm toán áp dụng trong
đơn vị và chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán trong Tập đoàn.
2.Mối quan hệ giữa bộ phận kiểm toán nội bộ
với các bộ phận chức năng khác:
- Bộ
phận KTNB:
+ Được
yêu cầu các bộ phận chức năng khác chấp hành kế hoạch kiểm toán được lãnh đạo
phê duyệt và cung cấp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến coonmg việc kiểm toán;
+ Nhận xét đánh giá kết quả kiểm toán, kiến
nghị các biện pháp nhằm nhằm chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các bộ
phận chức năng được kiểm toán;
+ Phối hợp với các bộ phận chức năng khác
thực hiện các nhiệm vụ được lãnh đạo giao.
- Các bộ phận khác :
+ Có trách nhiệm cungc ấp hồ sơ, tài liệu
thuộc lĩnh vực đơn vị quản lý có liên quan đến công tác kiemr toán;
+ Phối hợp với bộ phận KTNB trong quá trình
thực hiện kiểm toán, đánh giá kết quả kiểm toán; Xem xét, thực hiện các kiến
nghị của KTNB nhằm khắc phục các thiếu sót, nâng cao hiệu quả của đơn vị,
3.Mối
quan hệ giữa bộ phận KTNB với kiểm toán bên ngoài:
KTNB là đầu mối giúp lãnh đạo doanh nghiệp
trong việc tổ chưc thực hiện các cuộc kiểm toán do kiểm toán bên ngoài thực
hiện:
- Tham
mưu cho lãnh đạo việc lựa chọn nội dung kiểm toán, đàm phán ký kết hợp đồng
thuê KTĐL kiểm toán;
- Giúp
lãnh đạo chuẩn bị các điều kiện để kiểm toán bên ngoài vào việc thực hiện kiểm
toán theo kế hoạch ( từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc kiểm toán) ;
KTNB và kiểm toán bên ngoài có sự phối hợp,
hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ:
- KTNB
giúp kiểm toán bên ngoài nắm bắt các thông tin về đặc điểm tổ chức, hoạt động
sản xuất-kinh doanh và các cơ chế nội bộ của doanh nghiệp phục vụ cho việc kiểm
toán.
- KTNB
tham gia kiểm toán một số nội dung hoặc phối hợp cùng kiểm toán độc lập thực
hiện kiểm toán theo hoạt động ký kết;
- KTNB
phối hợp cùng bộ phận được kiểm toán: Cung cấp, gaiirtrinhf các thông tin cho
kiểm toán bên ngoài và tham gia ý kiến với kiểm toán bên ngoài trong việc lập,
hoàn thiện báo cáo, biên bản kiểm toán trước khi trình lãnh đạo ký;
- Hoạt
động KTNB có hiệu quả giúp cho kiểm toán bên ngoại rút ngắn thời gian, nội
dung, phạm vi kiểm toán, giảm phí thuê kiểm toán và ngược lại khi có kiểm toán
bên ngoài kiểm toán, doanh nghiệp có thể giảm bớt hoạt động KTNB ở các nội
dung, lĩnh vực kiểm toán bên ngoài đã kiểm toán mà vẫn đảm bảo được yêu cầu
công tác kiểm toán nói riêng và công tác quản lý nói chung.