Một vài ý kiến về bản chất và vai trò của Kiểm toán nội bộ
TCKT cập nhật: 11/01/2010
Bản chất của
kiểm toán nội bộ
Hiện có
nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán nội bộ trên thế giới. Theo các
chuẩn mực hành nghề của Kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán viện nội bộ Hoa kỳ
ban hành thì “ Kiểm toán nội bộ là một chức năng xác định độc lập, sắp đặt bên
trong một tổ chức bên trong để xem xét, đánh giá các hoạt động, và được coi là
một dịch vụ (sự hỗ trợ) đối với tổ chức”.
Như vậy,
theo định nghĩa trên, kiểm toán nội bộ là một loại hình kiểm toán có tổ chức mà
có chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của những viecẹ kiemsoát có tổ
chức mà chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của những việc kiểm soát
khác và mang tính nội kiểm. Kiểm toán nội bộ là một bộ phận cấu thành, là bộ
phận trọng tâm của hệ thống kiểm toán nội bộ, nó hoạt động theo những nguyên
tắc của kiểm toán.
Cụ thể, kiểm
toán nội bộ có các nội dung hoạt động như sau:
- Thứ nhất, thẩm tra các thủ tục kiểm toán đẻ
xác định thích hợp và tính ưu việt của nó
Mục đích của
việc thẩm tra tính thích hợp của kiểm toán nội bộ để khẳng định rằng hệ thống kiểm soát nội bộ vận hành
đều đặn và có hiệu quả, đáp ứng mọi mục tiêu đã định trước. Việc thẩm tra đẻ
phơi bày mọi hành vi gian lận, không bình thường và gây lãng phí với bản chất
lặp đi lặp lại nhăm ngăn chặn và giảm thiểu chúng.
- Thứ hai, kiểm tra tính trung thực và độ tin
cậy của thông tin.
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính trung thực và
độ tin cậy không chỉ cua bản thân các thông tin tài chính mà cả các hoạt động
và phương tiện sử dụng để xác định, đo đạc phân loại và báo cáo các thông tin
đó. Việc kiểm tra hệ thống thông tin này là cơ sở để khằng định các số sách và
báo cáo tài chính chứa dựng các thông tin
chính xác, kịp thời và hữu ích.
- Thứ ba, kiểm tra việc tuân thủ các chính
sách, các quy định, các kế hoạch và các thủ tục hiện hành.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hệ thống
nhằm xác định hoạt độngcủa các đơn vị có đảm bảo tuân thủ các chính sách thủ
tục, luật pháp và các quy định mà có thể tác động quan trọng tới mọi hoạt động
tổ chức. Tiếp nối với chức năng này, trong một số trường hợp và nếu được phép
của ủy ban quản trị tối cao, các kiểm toán viên nội bộ đánh giá tính hợp lý và
sự ưu tiên của các chính sách, quy định, kế hoạch trước khi đi đến việc xác
định mức đọ tuân thủ.
- Thứ tư, kiểm tra các phương tiện đảm bảo cho
tài sản.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phương
tiện được sử dụng để đảm bảo an toàn cho các tài sản nhằm tránh các dạng mất
mát khac nhau. Mặt khác, kiểm toán viên nội bộ cần có những kiến nghị cho nhà
quản lý để phòng ngừa các hoạt động bất hợp pháp xâm phạm tài sản của đơn vị,
tổ chức.
- Thứ năm, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và
hiệu quả của các nguồn lực.
Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lượng thực
hiện các nhiệm vụ được giao. Việc thực hiện này liên quan đén các nhóm và các
nhân viên đơn vị. Ở đây kiểm toán viên nội bộ không chỉ quan tâm đến việc các
nhóm hay các nhân viên thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả, tiết kiệm
mà còn quan tâm đến việc thực hiện của họ có mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh
nghiệp không? Do công việc (đặc biệt là trong lĩnh vực kỹ thuật) rất đa dạng trong một tổ chức kinh tế nên để
hoàn thành được nhiệm vụ trên, bộ phận kiểm toán viên nội bộ phải tuyển chọn
được những người có trình độ nghiệp vụ tương xứng.
- Thứ sáu, kiểm tra việc tuân thủ các mục
tiêu đề ra đối với các chương trình hay các hoạt động nghiệp vụ.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hoạt động
hay chương trình để xem xét kết quả thu được có phù hợp với mục tiêu đề ra hay
không và các hoạt động, chương trình đó có được thực hiện theo kế hoạch đã định
không. Bên cạnh đó, kiểm toán viên nội bộ cần trợ giúp cho những người lãnh đạo
khi xây dựng các mục tiêu cho các chương trình bằng việc xác định xem những giả
thiết, dữ liệu quan trọng có hợp lý không, những thông tin hiện thời có chính
xác và có được sử dụng không và hệ thống kiểm tra kiểm soát có được thiết lập
trong các hoạt động hay chương trình không.
- Thứ bảy là nghiên cứu, phát hiện, dự báo các
rủi ro có thể xảy ra trong động của đơn vị,góp phần ngăn chặn, xử lý các rủi ro. KTNN là tổ chức nội kiểm, am hiểu
mọi đặc trưng của quản lý và hoạt động của đơn vị, do đó có điều kiện và phải
coi trọng nhiệm vụ phát hiện, ngăn ngừa, xử lý rủi ro là một trong những nhiệm
vụ ưu tiên, nhằm đảm bảo sự ổn định phát triển bền vững.
- Thứ tám, các nhiệm vụ đặc biệt khác khi lãnh đạo đơn vị giao phó.
Ngoài các chức năng trực tiếp, kiểm soát viên nội bộ
có thể được giao thêm những nhiệm vụ có ích cho Ban giám đốc. Một số ví dụ về
các nhiệm vụ đặc biệt giao cho kiểm soát viên nội bộ là: điều tra về cá nhân,
đại diện cho Ban giám đốc hoặc giám sát cho cuộc thỏa thuận, tham gia vào các
chương trình đào tạo của đơn vị…
Như vậy kiểm soát viên nôi bộ là sự hỗ trợ cho các nhà
quản lý ở mọi cấp đệ họ tiến hành công tác quản lý hiệu quả hơn. Các kiểm toán
viên nội bộ luôn cố gắng xem xét các vấn đề như thể bản thân họ là những người chủ và vì thế hộ trực tiếp tìm kiếm các
bằng chứng cần thiết cho giải pháp đối với các vấn đề về quản lý. Trọng tâm ở
đây là hiệu quả và hiệu năng cuối cùng của quản lý. Kiểm toán viên nội bộ cố
gắng đại diện cho chủ sở hữu trong tình huống khi hạn chế về thời gian và sức
lực đã không cho phép cả những chủ sỡ hữu lẫn các nhà quản lý có trách nhiệm
tiếp xúc trực tiếp với các khía cạnh cụ thể của đối tượng kiểm toán. Hay nói
theo một cách khác,chức năng kiểm toán nội bộ sẽ giúp cho các nhà quản lý có
thể chuyên tâm vào công việc đưa ra những quyết định đúng đắn mà không phải
dành một phần thời gian và sức lực vào công việc kiểm toán nội bộ.
Vai trò của
kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một chức năng quản lý đã được xây
dựng, phát triển từ lâu và cho đến năm 1940 xuất hiện khái niệm kiểm toán nội
bộ. Từ đó đã có sự lớn mạnh nhanh chóng trong việc áp dụng kiểm toán nội bộ vào
công việc quản trị doanh nghiệp. Các đơn vị kinh tế cơ sở phát hiện ra rằng hệ
thống kiểm toán nội bộ là phương tiện quản lý hiệu quả và ngày nay nó đã tìm
được chỗ đứng vững chắc trong các cơ quan chính phủ, các đơn vị sản xuất kinh
doanh lớn nhỏ tại nhiều quốc gia trên thế giới. Với sụ lớn mạnh của các loại
hình doanh nghiệp trong một vài thập niên gần đây, tầm quan trọng của kiểm toán
nội bộ cũng được nâng cao một cách tương ứng làm cho nó trở thành một yếu tố
chính trong việc thiết lập chất lượng kiểm tra nội bộ của doanh nghiệp và sự
lớn mạnh đó đã đóng góp một cách đáng kể vào sự phát triển của ngành kiểm toán
đương thời. Học viện kiểm toán viên nội bộ (IIA) là cơ quan chuyên môn độc lập
được thành lập ở hai bờ Đại Tây Dương ( Pháp và Mỹ) và được chia thành rất
nhiều viện tại nhiều nước trên thế giới cũng phần nào nói lên nhu cầu bức xúc
của việc nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ cho việc kiểm toán
viên nội bộ (CIA).Sự công nhận kiểm toán nội bộ cũng được khẳng định ở kiểm
toán viên độc lập: Họ thừa nhận kiểm toán nội bộ là công cụ hiệu quả và là sự
bổ sung cần thiết cho công việc ngoại kiểm luôn luôn khuyến khích khách hàng
của mình thiết lập kiểm toán nội bộ. Hơn nữa, với việc kiểm toán báo cáo tài
chính theo các cách tiếp cận dựa trên rủi ro thì công việc kiểm toán sẽ được
giảm bớt nếu như đơn vị có hệ thống kiểm soát nội bộ hiểu quả. Đối với các đơn
vị, kiểm toán nội bộ đem lại cho nhà quản lý cấp cao cái nhìn quán xuyến đối
với mọi hoạt động đã và đang diễn ra; khi những người chủ sở hữu hoặc quản lý
không có thời gian và sức lực cộng với chuyên môn cho việc kiểm tra, kiểm soát
độc lập thì các kiểm toán viên nội bộ sẽ giúp họ để họ tập trung được nhiều hơn
vào quá trình đưa ra các quyết định quản lý. Trong hệ thống kiểm tra tài chính
Nhà nước, hệ thống kiểm toán nội bộ trong các cơ quan hành chính sự nghiệp và
các tổ chức kinh tế Nhà nước giữ vai trò hết sức quan trọng.Do loại hình chủ
yếu kiểm toán hoạt động và khác với kiểm
toán Nhà nước, kiểm toán nội bộ được đặt tại các đơn vị cơ sở nên giúp sớm phát
hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi tiêu cực, gian lận trong quản lý và điều
hành các hoạt động kinh tế, tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản, nhân lực, tiền vốn và hạn chế lãng phí, tham nhũng;nâng cao hiệu quả hoạt
động và hiệu năng quản lý; hoàn thiện và đổi mới phong cách làm việc tại các cơ
quan, đơn vị vốn là đối tượng bắt buộc của KTNN.Ở nhiều quốc gia, kiểm toán nội
bộ ở các cơ quan hành chính, tổ chức sự nghiệp công và các doanh nghiệp Nhà
nước được coi là cánh tay nối dài của các cơ quan kiểm toán tối cao.
Định hướng
phát triển kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ ra đời xuất phát từ nhu cầu quản lý
và nó phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường. Kiểm toán nội bộ được thiết
lập để phục vụ trước hết và chủ yếu cho các cấp lãnh đạo trong một một tổ chức
để đạt được tiinhs hiệu năng, tính kinh tế và tính hiệu quả khi hoàn thành
nhiệm vụ và trách nhiệm tương ứng của họ .đang trong quá trinh phát triển nền
kinh tế thị trương định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vơi kinh tế trong
khu vực và quốc tế ;quá trình phát triển đó tất yếu nảy sinh nhu cầu về hình
thành kiểm toan nội bộ trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan
chính phủ để phục vụ tronh công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực bảo đảm hiệu
quả của các hoạt động .Để kiểm toán nội bộ thực sự phát huy được hiệu quả vốn
có của nó trong công tác quản lý kinh tế, tài chính,tiếp tục phat huy được
những kết quả đã được, dần dần khắc phục các nhược điểm đă nảy sinh ;định hướng
chiến lược cho việc phát triển kiểm toán nội bộ ở việt nam cần tập trung vào
các nội dung sau:
- Thứ nhất :Việc phát triển kiểm toán nội bộ ở Việt Nam là sự cần thiết tất yếu,
này cầng trở nên quan trọng vì nhu cầu của bản thân hoạt động quản lý , cơ chế
tự chịu trach nhiệm , công khai, minh bạch trong quản tài chính , ngân sách ;sự
cạnh tranh khốc liệt trong nền kinh tế thị trường ;trong bối cảnh nhà nước tăng
cường phòng chống tham nhũng ,tiết kiệm , chống lãng phí . Việc phát triển đó
phù hợp với định hướng trong luật KTNN về trách nhiệm của các cơ quan , tổ chức
quản lý, sử dụng ngân sách , tiền và tài sản nhà nước “Tổ chức kiểm toán nội bộ
theo quy định của pháp luật để bảo vệ tài sản ;đánh giá về chất lượng và độ tin
cậy của thông tin kinh tế , tài chính ;về chấp hành pháp luật , chế độ chính
sách nhà nước và các nội quy, quy chế của đơn vị ”.
- Thứ hai :Việc phát triển kiểm toán nội bộ được thực hiển
không những đối với doanh nghiệp
thuộc tất cả các thành phần kinh tế mà cần phải phát triển trong cả lĩnh
vực tài chính công ,đối với các cơ quan, đơn vị , tổ chức quản lý , sử dụng
ngân sách, tiền , tài sản nhà nước. Định hướng này phù hợp với thông lệ của
nhiều nước trên thế giới .
- Thứ ba: Việc phát triển kiểm toán nội bộ phải đặt trong mối quan hệ với phát
triển hệ thống kiểm soát nội bộ . Cần phải nâng cao nhận thức về kiểm soát nội
bộ,đặt biệt là nhận thức của các nhà lãnh đạo về kiểm soát nội bộ;thiết lập môi
trường kiểm soát nội bộ thuận lợi cho sự phát triển của kiểm toán nội bộ.
- Thứ tư : Phát triển kiểm toán nội bộ trong mối quan hệ với phát triển Kiểm
toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập.Kết quả hoạt động của kiểm toán nội bộ là cơ
sở, căn cứ tài liệu quan trọng cho hoạt động của Kiểm toán nhà nước ,Kiểm toán
độc lập .hoạt đông kiểm toán nội bộ có hiệu lực ,hiệu quả sẽ bao trùm được các
lĩnh vực hoạt động của đơn vị ,mà Kiểm toán nhà nước ,Kiểm toán độc lập không
thể với tới :giảm các rủi ro kiểm soát và công việc các hoạt động ngoại kiểm
.Kiểm toán nội bộ tại các đơn vị là cánh tay nối dài của kiểm toán nhà
nước;Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn , chỉ đạo nghiệp vụ đối với
Kiểm toán nội bộ .
- Thứ năm: Phát triển kiểm toán nội bộ trong bối cảnh tăng cường quản lý nhà
nước và hội nghề nghiệp đối với kiểm toán nội bộ và thực hiện Luật kế toán,
Luật Kiểm toán nhà nước, Luật NSNN. Nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn,
định hướng phát triển kiểm toán nội bộ; hội nghề nghiệp ban hành chuẩn mực, quy
định chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán nội bộ, đào tạo, cấp chính chỉ nghề nghiệp
kiểm toán viên nội bộ.
- Thứ sáu: Việc hình thành và phát triển kiểm toán nội bộ phải trên cơ sơ nguyên
tắc khách quan. Việc hình thành kiểm toán nội bộ phải xuất phát từ yêu cầu nội
tại của công tác quản lý đơn vị, hoạt đọng của kiểm toán nội bộ tuân thủ các
chuẩn mực và hướng dẫn về hoạt động kiểm toán nội bộ.
- Thứ bảy: Phát triển kiểm toán nội bộ trong mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích
kiểm toán nội bộ có thể đem lại và chi phí để duy trì hoạt động của nó. Các cơ
quan cần phải cân nhắc kỹ vấn đề này khi quyết định thành lập kiểm toán nội bộ
nhăm mang lại hiệu lực và hiệu quả cho quản lý và quản trị đơn vị, tránh hình
thức, phô trương và lãng phí nguồn lực vốn còn hạn hẹp của mình.
Vài ý kiến trên đây nhằm gợi ra những cách nhìn mang
tính bản chất, thực sự cầu thị và khách quan, không nên quá đề cao hay là hạ
thấp kiểm toán nội bộ. Cần nhìn nhận kiểm toán nội bộ như bản thể vốn có của
có, để từ đó lựa chon cách sử dụng có hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho mọi
chủ thể quản lý, trước hết là các nhà quản lý, quản trị các đơn vị cơ sở.