Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tài chính-kế toán
Linh hoạt sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Xu hướng trên thế giới và những vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán nội bộ Việt Nam
TCKT cập nhật: 11/01/2010

1148963555_tien_dut_lon.jpgVới sự biến động không ngừng của môi trương kinh doanh, nhà quản lý luôn tìm những phương sách quản lý hiệu quả, phát triển đáp ứng nhu cầu của quản lý. Để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của quản lý, các lĩnh vực KTNB ngày càng được mở rộng. Trong phạm vi bài viết này, Tác giả muốn trình bày về những sự thay đổi trong nhận thức, thực hành kiểm toán hoạt động của KTNB trên thế giới và những vấn đề về nội dung kiểm toán này của KTNB ở Việt Nam.

Kiểm toán hoạt động- Một lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ

Theo nghiên cứu của tác giả John A. Edd, KTNB xuất hiện khá sớm từ trước năm 1900. Một số đơn vị hoạt động trong khu vực công và chủ sở hữu xủa những trang trại lớn đã kiểm dụng các KTV nội bộ đẻ thực hiện các hoạt động kiểm toán khác nhau trong đơn vị. Trong thế kỷ XIX hoạt động KTNB trở nên khá phổ biến trong các đơn vị kinh doanh như các ngân hàng, các công ty kinh doanh vận tải đường sắt. Ở những đơn vị này, KTV nội bộ chủ yếu là ngăn chặn và phát hiện các sai phạm trong các hoạt động của chi nhánh. Trong Hướng dẫn kiểm toán của Công ty German Krupp (Đức) năm 1875 đã viết: KTV nội bộ xem xét khả năng các văn bản luật pháp, hợp đồng, chính sách và những thủ tục được thực hiện có đúng đắn không? Xem xét khả năng hoạt động kinh doanh đã được thực hiện trong quan hệ với những chính sách đã xây dựng, với kết quả đạt được như thế nào?... Trong quan hệ với nhiệm vụ đặt ra, KTV nội bộ phải đưa ra những kiến nghị để cải tiến phương tiện đang sử dụng, cải tiến các thủ tục, xem xét lại các hợp đồng và phát hiện những yếu điểm để kiến nghị cải tiến tình hình…

Năm 1978, lần đầu tiên học viên KTV nội bộ (IIA) đưa ra định nghĩa về KTNB. Theo IIA: “ KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự giúp đỡ đối với tổ chức đó”. Đồng thời IIA cũng giải thích rõ hơn về KTNB: “ Mục tiêu của KTNB là giúp đỡ các thành viên của tổ chức thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ; Kết thúc kiểm toán phải thực hiện việc phân tích, đánh giá, đưa ra đề xuất tư vấn và cung cấp thông tin về hoạt động đã kiểm tra”. Viện Kiểm tra viên và Kiểm soát viên nội bộ của Pháp (IFACI) cho rằng: “ KTNB là việc xem xét lại định kì những công cụ mà lãnh đạo đang xử dụng để kiểm soát và quản lý đơn vị”. Theo định nghĩa này, KTNB được thực hiện bởi một bộ phận trực thuộc cấp lãnh đạo của đơn vị và độc lập với các bộ phận khác. Mục tiêu của KTV nội bộ được xác định là: “ Kiểm tra những cách thức thực hiện có “an toàn” không; Những thông tin cung cấp có đáng tin cậy không; Những nghiệp vụ thực hiện có đều đặn không; Những cách thức tổ chức trong đơn vị có hiệu lực không; Cơ cấu có rõ ràng và phù hợp không” Quan điểm về KTNB được sử dụng phổ biến trong các cơ quan thuộc Chính phủ Vương quốc Anh cho rằng: “ KTNB là một hoạt động đánh giá độc lập trong một bộ phận, nó hoạt động như một sự trợ giúp đối với ban quản lý bằng cách đo lường và đánh giá tính hiệu quả của hệ thống KSNB”. Năm 1991, Ủy ban Thực hành Kiểm toán của Vương quốc Anh thông qua định nghĩa về KTNB cho rằng “ KTNB tập trung vào kiểm tra, đánh giá và báo cáo về sự phù hợp KSNB để đóng góp vào việc sử dụng đúng, kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của các nguồn lực”

Như vậy, KTNB xuất hiện, thwch hiện các hoạt động trợ giúp đối với nàh quản lý xuất phát từ chính nhu cầu kiểm tra, đánh giá độc lập về tính hiệu quả, hiệu lực và tính kinh tế của các hoạt động DN. Vào thời kì đầu, KTNB chỉ tập trung vào kiểm tra các nghiệm vụ và được xem như các hoaatj động hỗ trợ cho ngoại kiểm. Theo tiến trình phát triển và xuất phát từ nhu cầu quản lý, KTNB có sự chuyển hướng mạnh mex từ kiểm tra độ tin cậy của thông tin( nghiệp vụ), hỗ trợ cho ngoại kiểm sanh đánh giá các hoạt động của đơn vị, tìm kiếm những giải pháp hỗ trợ cho hoạt động được kiểm toán. KTNB hiện đại hướng sự quan tâm tới đánh giá tính hiệu quả, hiệu năng của các hoạt động vạ đề xuất các giải pháp để cải thiện. Trong trường hợp này, KTNB đã thực hiện kiểm toán hoạt động. Phân tích các quan điểm trên cũng chỉ ra rằng, song song với những lĩnh vực kiểm toán truyền thống, kiểm toán hoạt động chính trị là xu hướng phát triển tất yếu trong nội dung của KTNB.

Thực trạng kiểm toán hoạt động trong kiểm toán nội bộ tại các đơn vị

Năm 1968, báo cáo tại Hội thảo về KTNB tại Hoa Kỳ cho thấy thời gian hoạt động của bộ phận KTNB phân phối cho các hoạt động kiểm toán khác nhau như sau: Cho hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính là 20%; cho kiểm toán các hoạt động và các lĩnh vực khác là 80%; năm 1974, thời gian thực hiện kiểm toán tài chính của KTNB giảm xuống chỉ còn 2%. Đến năm 1983, điều tra của IIA đối với các DN Hoa Kỳ xác định KTNB thực hiện kiểm toán hoạt động là 63%, với các DN của Vương quốc Anh tỷ lệ này là 65%. Điều tra của E&Y năm 2002 tại Nga và cộng đồng các quốc gia độc lập (CÍ) cho thấy KTNB tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu gồm: Thực hiện các cuộc kiểm toán truyền thống 100%; Thực hiện hoạt động kiểm toán nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị 100%; Trợ giúp nhà quản lý xây dựng hoặc duy trì hệ thống kiểm soát hoạt động hiểu quả 78%; Thực hiện các hoạt động tư vaans67%; Điều tra các hành vi gian lận 61%. Dựa vào thông tin có được E&Y dự đoán, KTNB ở Nga và CÍ có sự chuyển hướng sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là: nhận diện, đánh giá và quản lý rủi ro; đánh giá hiệu quả hoạt động; kiểm toán công nghệ thông tin. Phân tích trên đây cho thấy KTNB trên thế giới có sự chuyển biến đáng kể không những ở quốc gia có hoạt động kiểm toán phát triển như Mỹ, Anh. Xu hướng này còn tồn tại ở các quốc gia có hoạt động KTNB còn khá mới mẻ như Nga và CIS. Xu hướng này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà quản lý đối với vấn đề hiệu quả hoạt động và hiệu quả quản lý – Hai nội dung cơ bản trong thực hiện kiểm toán hoạt động.

Phát triển kiểm toán hoạt động- Vấn đề đặt ra trong việc thực hiện KTNB ở Việt Nam

 Ở Việt Nam, Quy chế kiểm toán nội bộ (áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước, ban hành kèm theo quyết đinh 832 TC/QĐ/CĐKT, ngày 28/10/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính), Điều 5: Phạm vi thực hiện của kiểm toán nội bộ xác định KTNB thực hiện các lính vực kiểm toán:

1- Kiểm toán các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và của các đơn vị thành viên; 2 – Kiểm toán tuân thủ; 3 – Kiểm toán hoạt động.Tuy nhiên,thực tế hoạt động KTNB còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát của tác giả đồi với 25 Tổng công ty(TCT) cho thấy: có 8 TCT có tổ chức KTNB,8/8/ bộ phận KTNB thực hiện kiểm tài chính nhưng chỉ có 1/8 bộ phận KTNB của TCT thực hiện kiểm toán hoạt động. KTNB tại các TCT chủ yếu thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hoặc kiểm toán bộ phận báo cáo tài chính. Các hoạt động khác không được thực hiện kiểm toán bao gồm cả xem xét tính hiệu quả của hoạt động tài chính, phi tài chính của những hoạt động quản lý. Kết quả khảo sát cunhx thể hiện nhiều vấn đề trùng lặp trong quá trình thực hiệ kiểm toán của KTNB với kiểm toán độc lập (hằng năm) tại các đơn vị của TCT. Điều này phần nào cũng cho thấy hoạt động của KTNB ở Việt Nam cồn đơn giản, chưa phát triển.

Thực hiện hoạt động của các doanh nghiệp trong nước nói chung và những TCT hoặc tập đoàn có tổ chức KTNB cũng đã đặt ra nhiều vấn đề về quản lý cần xem xét đánh giá trong môi trường biến động. Những khó khăn đặt ra trong doanh nghiệp này là: Thứ nhất, sự hội nhập đầy đủ, toàn diện theo các cam kết khi tham gia WTO đem lại những cơ hội và thách thức ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định quản lý; Hai là, sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể huy động vốn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự thận trọng trong đánh giá và quyết định: Ba là, vấn đề nhân sự, quản lý nhân sự đòi hỏi nàh quản lý cần có sự quan tâm hơn nữa nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng lao động; Bốn là, nhà quản lý phải quan tâm tới môi trường,quan tâm tới phúc lợi xã hội cùng với lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh; Năm là, vấn dụng ứng dụng tin học vào quản lý đặt ra cho doanh nghiệp những vấn đề về kiểm toán tổng thể, sử dụng nhân lực,…

Trong thời điểm hiện tại, khi KTNB mới xuất hiện, khi mà nhận thức của nhà quản lý trong các doanh nghiệp trong nước còn chưa đúng hoặc chưa đầy đủ về lĩnh vực kiểm toán này thì xu hướng của KTNB trong nước là không khó hiểu. Mặc dù vậy, trong tương lai gần KTNB ở Việt Nam phải thay đổi cho phù hợp với xu thế của KTNB hiện đại. Trước hết là trong lĩnh vực mang tính truyền thống của KTNB- Kiểm toán tài chính. Đây vẫn sẽ là lĩnh vực kiểm toán chủ yếu của KTNB nhưng thay đổi theo nhóm hướng thay vì tập trung vào kiểm tra độ tin cậy, KTNB sẽ đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát một cách có hiệu quả những hoạt động này. Tiếp đến, KTNB sẽ tập trung vào đánh giá đối với các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, trước mắt là những chức năng cơ bản như thu mua, bán hàng, sản xuất,marketing,nhân sự, quản lý hàng tồn kho…trên cơ sở đó xác định những biện pháp có thể cải tiến các hoạt động. KTNB có thể tham gia đánh giá các chương trinh, dự án hoặc những lĩnh vực quản lý ở các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, để giải quyết một nội dung lớn của KTNB nhằm hướng tới hoạt động kiểm toán thực sự đáp ứng nhu cầu quản lý doanh nghiệp, KTNB phải giải quyết những vấn đề trước mắt có liên quan đến tổ chức bộ máy và tổ chức thực hiên kiểm toán. Trước hết là xác định mô hình tổ chức của KTNB trong các doanh nghiệp phải thống nhất, phù hợp với điều kiện hiện tại và phải theo thông lệ chung. Tiếp đến, cần có sự thay đổi trong nhận thức của nhà quản lý đối với KTNB theo hướng nhận thức đúng vai trò của bộ phận này trong quản lý từ đó có thể sử dụng một cách hiệu quả. KTNB được tổ chức mang tính tự nguyện nhưng trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam, cơ quan quản lý Nhà nước vẫn cần có những văn bản pháp lý hướng dẫn mang tính định hướng phù hợp nhằm tránh tình trạng phát triển KTNB lệch lạc.sau đó, KTNB cần phải có một hệ thống chuẩn mực làm cơ sở cho thực hành đồng thời điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các bên có liên quan với sự phối hợp với các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán vào cơ quan Nhà nước có liên quan ( Bộ tài chính). Cuối cùng, KTNB cần có chiến lược trở thành một hoạt động mang tinh chuyên nghiệp.

Theo THS. Phạm Trung Kiên - Tạp chí Kiểm toán

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Kế toán
Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam: Hoàn thiện các điều kiện chuyển giao quản lý hành nghề kế toán
VỀ MỘT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
Nghề kế toán, kiểm toán trong kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
Kiểm toán
Kiểm toán điều tra Một biện pháp quan trọng để phát hiện và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Kiểm toán viên Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển thực trạng và giải pháp
Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
Kiểm toán – kiểm toán với sự minh bạch thông tin tài chính trên thị trường
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất.
Tài chính ở Mỹ và đề xuất mô hình thanh tra – giám sát đồng bộ thị trường tài chính Việt Nam
Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Thuế - phí
Mở rộng đối tượng được xoá nợ thuế
Cần biết về quyết toán thuế thu nhập cá nhân