Xu hướng trên thế giới và những vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán nội bộ Việt Nam
TCKT cập nhật: 11/01/2010
Với sự biến động không ngừng của môi
trương kinh doanh, nhà quản lý luôn tìm những phương sách quản lý hiệu quả, phát
triển đáp ứng nhu cầu của quản lý. Để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của quản
lý, các lĩnh vực KTNB ngày càng được mở rộng. Trong phạm vi bài viết này, Tác
giả muốn trình bày về những sự thay đổi trong nhận thức, thực hành kiểm toán
hoạt động của KTNB trên thế giới và những vấn đề về nội dung kiểm toán này của
KTNB ở Việt Nam.
Kiểm toán hoạt động- Một lĩnh vực chủ
yếu của kiểm toán nội bộ
Theo
nghiên cứu của tác giả John A. Edd, KTNB xuất hiện khá sớm từ trước năm 1900.
Một số đơn vị hoạt động trong khu vực công và chủ sở hữu xủa những trang trại
lớn đã kiểm dụng các KTV nội bộ đẻ thực hiện các hoạt động kiểm toán khác nhau
trong đơn vị. Trong thế kỷ XIX hoạt động KTNB trở nên khá phổ biến trong các
đơn vị kinh doanh như các ngân hàng, các công ty kinh doanh vận tải đường sắt.
Ở những đơn vị này, KTV nội bộ chủ yếu là ngăn chặn và phát hiện các sai phạm
trong các hoạt động của chi nhánh. Trong Hướng dẫn kiểm toán của Công ty German
Krupp (Đức) năm 1875 đã viết: KTV nội bộ xem xét khả năng các văn bản luật
pháp, hợp đồng, chính sách và những thủ tục được thực hiện có đúng đắn không?
Xem xét khả năng hoạt động kinh doanh đã được thực hiện trong quan hệ với những
chính sách đã xây dựng, với kết quả đạt được như thế nào?... Trong quan hệ với
nhiệm vụ đặt ra, KTV nội bộ phải đưa ra những kiến nghị để cải tiến phương tiện
đang sử dụng, cải tiến các thủ tục, xem xét lại các hợp đồng và phát hiện những
yếu điểm để kiến nghị cải tiến tình hình…
Năm
1978, lần đầu tiên học viên KTV nội bộ (IIA) đưa ra định nghĩa về KTNB. Theo
IIA: “ KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ
chức để xem xét và đánh giá hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự
giúp đỡ đối với tổ chức đó”. Đồng thời IIA cũng giải thích rõ hơn về KTNB: “
Mục tiêu của KTNB là giúp đỡ các thành viên của tổ chức thực hiện một cách hiệu
quả nhiệm vụ; Kết thúc kiểm toán phải thực hiện việc phân tích, đánh giá, đưa
ra đề xuất tư vấn và cung cấp thông tin về hoạt động đã kiểm tra”. Viện Kiểm
tra viên và Kiểm soát viên nội bộ của Pháp (IFACI) cho rằng: “ KTNB là việc xem
xét lại định kì những công cụ mà lãnh đạo đang xử dụng để kiểm soát và quản lý
đơn vị”. Theo định nghĩa này, KTNB được thực hiện bởi một bộ phận trực thuộc
cấp lãnh đạo của đơn vị và độc lập với các bộ phận khác. Mục tiêu của KTV nội
bộ được xác định là: “ Kiểm tra những cách thức thực hiện có “an toàn” không;
Những thông tin cung cấp có đáng tin cậy không; Những nghiệp vụ thực hiện có
đều đặn không; Những cách thức tổ chức trong đơn vị có hiệu lực không; Cơ cấu có
rõ ràng và phù hợp không” Quan điểm về KTNB được sử dụng phổ biến trong các cơ
quan thuộc Chính phủ Vương quốc Anh cho rằng: “ KTNB là một hoạt động đánh giá
độc lập trong một bộ phận, nó hoạt động như một sự trợ giúp đối với ban quản lý
bằng cách đo lường và đánh giá tính hiệu quả của hệ thống KSNB”. Năm 1991, Ủy
ban Thực hành Kiểm toán của Vương quốc Anh thông qua định nghĩa về KTNB cho
rằng “ KTNB tập trung vào kiểm tra, đánh giá và báo cáo về sự phù hợp KSNB để
đóng góp vào việc sử dụng đúng, kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của các nguồn lực”
Như
vậy, KTNB xuất hiện, thwch hiện các hoạt động trợ giúp đối với nàh quản lý xuất
phát từ chính nhu cầu kiểm tra, đánh giá độc lập về tính hiệu quả, hiệu lực và
tính kinh tế của các hoạt động DN. Vào thời kì đầu, KTNB chỉ tập trung vào kiểm
tra các nghiệm vụ và được xem như các hoaatj động hỗ trợ cho ngoại kiểm. Theo
tiến trình phát triển và xuất phát từ nhu cầu quản lý, KTNB có sự chuyển hướng
mạnh mex từ kiểm tra độ tin cậy của thông tin( nghiệp vụ), hỗ trợ cho ngoại
kiểm sanh đánh giá các hoạt động của đơn vị, tìm kiếm những giải pháp hỗ trợ
cho hoạt động được kiểm toán. KTNB hiện đại hướng sự quan tâm tới đánh giá tính
hiệu quả, hiệu năng của các hoạt động vạ đề xuất các giải pháp để cải thiện.
Trong trường hợp này, KTNB đã thực hiện kiểm toán hoạt động. Phân tích các quan
điểm trên cũng chỉ ra rằng, song song với những lĩnh vực kiểm toán truyền
thống, kiểm toán hoạt động chính trị là xu hướng phát triển tất yếu trong nội
dung của KTNB.
Thực trạng kiểm toán hoạt động trong
kiểm toán nội bộ tại các đơn vị
Năm
1968, báo cáo tại Hội thảo về KTNB tại Hoa Kỳ cho thấy thời gian hoạt động của
bộ phận KTNB phân phối cho các hoạt động kiểm toán khác nhau như sau: Cho hoạt
động kiểm toán Báo cáo tài chính là 20%; cho kiểm toán các hoạt động và các
lĩnh vực khác là 80%; năm 1974, thời gian thực hiện kiểm toán tài chính của
KTNB giảm xuống chỉ còn 2%. Đến năm 1983, điều tra của IIA đối với các DN Hoa
Kỳ xác định KTNB thực hiện kiểm toán hoạt động là 63%, với các DN của Vương quốc
Anh tỷ lệ này là 65%. Điều tra của E&Y năm 2002 tại Nga và cộng đồng các
quốc gia độc lập (CÍ) cho thấy KTNB tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu gồm:
Thực hiện các cuộc kiểm toán truyền thống 100%; Thực hiện hoạt động kiểm toán
nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị 100%; Trợ giúp nhà quản lý xây dựng hoặc duy trì
hệ thống kiểm soát hoạt động hiểu quả 78%; Thực hiện các hoạt động tư vaans67%;
Điều tra các hành vi gian lận 61%. Dựa vào thông tin có được E&Y dự đoán,
KTNB ở Nga và CÍ có sự chuyển hướng sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là: nhận
diện, đánh giá và quản lý rủi ro; đánh giá hiệu quả hoạt động; kiểm toán công
nghệ thông tin. Phân tích trên đây cho thấy KTNB trên thế giới có sự chuyển
biến đáng kể không những ở quốc gia có hoạt động kiểm toán phát triển như Mỹ,
Anh. Xu hướng này còn tồn tại ở các quốc gia có hoạt động KTNB còn khá mới mẻ
như Nga và CIS. Xu hướng này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà quản lý đối
với vấn đề hiệu quả hoạt động và hiệu quả quản lý – Hai nội dung cơ bản trong
thực hiện kiểm toán hoạt động.
Phát triển kiểm toán hoạt động- Vấn đề
đặt ra trong việc thực hiện KTNB ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Quy chế kiểm toán nội bộ (áp
dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước, ban hành kèm theo quyết đinh 832
TC/QĐ/CĐKT, ngày 28/10/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính), Điều 5: Phạm vi thực
hiện của kiểm toán nội bộ xác định KTNB thực hiện các lính vực kiểm toán:
1-
Kiểm toán các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và
của các đơn vị thành viên; 2 – Kiểm toán tuân thủ; 3 – Kiểm toán hoạt động.Tuy
nhiên,thực tế hoạt động KTNB còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát của tác giả
đồi với 25 Tổng công ty(TCT) cho thấy: có 8 TCT có tổ chức KTNB,8/8/ bộ phận
KTNB thực hiện kiểm tài chính nhưng chỉ có 1/8 bộ phận KTNB của TCT thực hiện
kiểm toán hoạt động. KTNB tại các TCT chủ yếu thực hiện kiểm toán báo cáo tài
chính hoặc kiểm toán bộ phận báo cáo tài chính. Các hoạt động khác không được
thực hiện kiểm toán bao gồm cả xem xét tính hiệu quả của hoạt động tài chính,
phi tài chính của những hoạt động quản lý. Kết quả khảo sát cunhx thể hiện
nhiều vấn đề trùng lặp trong quá trình thực hiệ kiểm toán của KTNB với kiểm
toán độc lập (hằng năm) tại các đơn vị của TCT. Điều này phần nào cũng cho thấy
hoạt động của KTNB ở Việt Nam
cồn đơn giản, chưa phát triển.
Thực
hiện hoạt động của các doanh nghiệp trong nước nói chung và những TCT hoặc tập
đoàn có tổ chức KTNB cũng đã đặt ra nhiều vấn đề về quản lý cần xem xét đánh
giá trong môi trường biến động. Những khó khăn đặt ra trong doanh nghiệp này
là: Thứ nhất, sự hội nhập đầy đủ, toàn diện theo các cam kết khi tham gia WTO
đem lại những cơ hội và thách thức ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định quản
lý; Hai là, sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước tạo điều kiện
cho doanh nghiệp có thể huy động vốn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đòi hỏi doanh
nghiệp phải có sự thận trọng trong đánh giá và quyết định: Ba là, vấn đề nhân
sự, quản lý nhân sự đòi hỏi nàh quản lý cần có sự quan tâm hơn nữa nhằm cải
thiện hiệu quả sử dụng lao động; Bốn là, nhà quản lý phải quan tâm tới môi
trường,quan tâm tới phúc lợi xã hội cùng với lợi nhuận từ hoạt động sản xuất
kinh doanh; Năm là, vấn dụng ứng dụng tin học vào quản lý đặt ra cho doanh
nghiệp những vấn đề về kiểm toán tổng thể, sử dụng nhân lực,…
Trong
thời điểm hiện tại, khi KTNB mới xuất hiện, khi mà nhận thức của nhà quản lý
trong các doanh nghiệp trong nước còn chưa đúng hoặc chưa đầy đủ về lĩnh vực
kiểm toán này thì xu hướng của KTNB trong nước là không khó hiểu. Mặc dù vậy,
trong tương lai gần KTNB ở Việt Nam
phải thay đổi cho phù hợp với xu thế của KTNB hiện đại. Trước hết là trong lĩnh
vực mang tính truyền thống của KTNB- Kiểm toán tài chính. Đây vẫn sẽ là lĩnh
vực kiểm toán chủ yếu của KTNB nhưng thay đổi theo nhóm hướng thay vì tập trung
vào kiểm tra độ tin cậy, KTNB sẽ đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát
một cách có hiệu quả những hoạt động này. Tiếp đến, KTNB sẽ tập trung vào đánh
giá đối với các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, trước mắt là những chức năng
cơ bản như thu mua, bán hàng, sản xuất,marketing,nhân sự, quản lý hàng tồn
kho…trên cơ sở đó xác định những biện pháp có thể cải tiến các hoạt động. KTNB
có thể tham gia đánh giá các chương trinh, dự án hoặc những lĩnh vực quản lý ở
các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, để giải quyết một nội dung lớn của KTNB nhằm
hướng tới hoạt động kiểm toán thực sự đáp ứng nhu cầu quản lý doanh nghiệp,
KTNB phải giải quyết những vấn đề trước mắt có liên quan đến tổ chức bộ máy và
tổ chức thực hiên kiểm toán. Trước hết là xác định mô hình tổ chức của KTNB
trong các doanh nghiệp phải thống nhất, phù hợp với điều kiện hiện tại và phải
theo thông lệ chung. Tiếp đến, cần có sự thay đổi trong nhận thức của nhà quản
lý đối với KTNB theo hướng nhận thức đúng vai trò của bộ phận này trong quản lý
từ đó có thể sử dụng một cách hiệu quả. KTNB được tổ chức mang tính tự nguyện
nhưng trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam, cơ quan quản lý Nhà nước vẫn cần có
những văn bản pháp lý hướng dẫn mang tính định hướng phù hợp nhằm tránh tình
trạng phát triển KTNB lệch lạc.sau đó, KTNB cần phải có một hệ thống chuẩn mực
làm cơ sở cho thực hành đồng thời điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các
bên có liên quan với sự phối hợp với các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp kế toán,
kiểm toán vào cơ quan Nhà nước có liên quan ( Bộ tài chính). Cuối cùng, KTNB
cần có chiến lược trở thành một hoạt động mang tinh chuyên nghiệp.