Giám sát Ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp ở mọi quốc gia. Nó cũng là
hệ quả tất yếu của quá trình phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan công
quyền kể từ khi xuất hiện NSNN. Bởi vậy, thẩm quyền và trách nhiệm giám
sát NSNN của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp đều được xác lập rõ
rang trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, trong bài viết này
không đi sâu phân tích tính hợp lệ, hợp pháp của hoạt động giám sát; mà
chủ yếu tập trung luận bàn về cơ sở lý luận của việc lựa chọn các công
cụ phục vụ cho giám sát NSNN của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Chính phủ đã đưa ra chính sách cấm các tập đoàn và tổng công ty đầu
tư quá 30% vốn vào các hoạt động kinh doanh không nòng cốt nhằm ngăn
chặn tình trạng phân tán đầu tư. Song biện pháp này chưa thực sự phát
huy hiệu quả.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Nền kinh tế Việt Nam tính từ năm 1990 đến nay chưa bao giờ lại bấy ổn
như hiện nay. Thị trường tiền tệ tín dụng có nhiều dấu hiệu giảm tính
thanh khoản; thị trường chứng khoán luôn trong tình trạng bất ổn; thị
trường bất động sản đóng băng và ngày càng có dấu hiệu sa sút nghiêm
trọng. Tình trạng lạm phát các mặt hàng hóa chủ yếu của nền kinh tế
chưa có dấu hiệu khả quan. Vấn đề nghiêm trọng hơn mà nền kinh tế phải
đối mặt là các DN trong nền kinh tế bao gồm DN nhà nước, DN tư nhân
đang đứng trước muôn vàn khó khăn mà chưa có lối ra.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và
Miller vào năm 1958 (gọi tắt là học thuyết MM). Theo học thuyết MM, sự
lựa chọn giữa VCSH và nợ không liên quan đến giá trị của công ty. Nói
một cách khác, học thuyết này chỉ ra một hướng là các giả thuyết về cấu
trúc vốn nên tốt hơn bằng cách nào, cho thấy dưới điều kiện nào thì cấu
trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết cấu trúc
vốn hiện đại được tiếp tục phát triển vào những năm sau đó, bao gồm
thuyết cân bằng, thuyết trật tự phân hạng, thuyết điều chỉnh thị
trường, thuyết cơ cấu quản lý...
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Công cụ tài chính phái sinh (CCTCPS) là một thuật ngữ khá mới và chưa
được áp dụng rộng rãi trong nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, một số ngân
hàng thương mại và DN đã bắt đầu phái sinh các giao dịch liên quan đến CCTCPS nhưng Nhà nước chưa có hướng dẫn cụ thể. Ngân hàng Nhà nước cũng
ban hành hướng dẫn kế toán một số công cụ tài chính, nhưng việc hướng
dẫn còn bó hẹp trong một số loại CCTCPS nhất định và đôi chỗ chưa thật
sự hợp lý. Trong phạm vi của bài này, chỉ xin trao đổi về phương pháp
nhận biết và cách thức tiếp cận đối với một số loại CCTCPS đã bắt đầu
xuất hiện trong hoạt động kinh tế tại Việt Nam.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Sau hơn một năm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế - xã hội nước ta ngày càng phát
triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả khả quan trên nhiều mặt. Tuy
nhiên, nền kinh tế cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức,
trong đó, việc chỉ số giá tiêu dùng tăng cao nhất trong vòng 12 năm qua
đã tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh
nghiệp và đời sống của người dân.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Báo cáo tài chính là cơ sở dữ liệu quan trọng trong việc cung cấp thông
tin không chỉ đối với nhà quản lý DN mà còn đối với các nhà đầu tư, đặc
biệt là các nhà đầu tư chứng khoán. Để có thể phân tích nhằm đưa ra
đánh giá đúng đắn về khả năng tài chính, hiệu quả kinh doanh và tiềm
năng phát triển của DN, các nhà đầu tư cần phải dựa vào nguồn thông tin
trung thực, đầy đủ và rõ ràng của DN thông qua hệ thống báo cáo tài
chính.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Qua kiểm tra - kiểm soát, cơ quan quản lý tài chính thu được những thông tin phản hồi về đối tượng quản lí;
giúp cơ quan quản lý nắm bắt kịp thời và chính xác tính hình quản lý
tài chính của đối tượng quản lý, giúp cho đối tượng quản lý sửa chữa
những thiếu só , tăng cường việc thực hiện có hiệu quả các quyết định
quản lý tài chính ; kịp thời ngăn ngừa những việc làm sai trái, vi phạm
pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toán của cơ quan, tổ chức và công dân. Từ đó, góp phần tăng cường pháp
chế tài chính và giúp cơ quan quản lý xem xét tính đúng đắn của các
quyết định quản lý, thấy được những thiếu sót, khuyết điểm trong tổ
chức điều hành, những sơ hở trong quản lý để nghiên cứu sửa đổi chó phù
hợp với mục tiêu tăng cường hiệu lực quản lý nền tài chính quốc gia.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (Treasury and Budget
Management Information System) gọi tắt là TABMIS là cấu phần lớn nhất
của Dự án Cải cách Quản lý Tài chính công của Bộ Tài chính. Nằm trong
định hướng cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách tài chính
nói riêng, TABMIS có mục tiêu là đổi mới căn bản hệ thống thông tin
quản lý tài chính thông suốt từ trung ương đến địa phương; đảm bảo cung
cấp báo cáo ngân sách kịp thời, trung thực, chính xác, trên cơ sở quy
định rõ trách nhiệm giải trình ngân sách; đảm bảo tính minh bạch trong
quản lý tài chính Nhà nước.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Ngân hàng thương mại (NHTM) là DN kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù
riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính. Cũng giống như các DN phi
tài chính, các NHTM luôn phải đối đầu với những thách thức của thị
trường cạnh tranh và đầy biến động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại
hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác
trong nền kinh tế. Vì vậy, phân tích tài chính đối với NHTM ngoài những
nét chung nhất của phân tích tài chính DN thông thường còn có những
điểm rất khác biệt cần quan tâm nghiên cứu.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
|
|
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 Tiếp > Cuối >>
|
| Kết quả 1 - 20 / 103 |