|
(Bài viết có 2 trang. Bạn đang xem trang 1)
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là xu hướng phát triển tất yếu của thời đại và là yêu cầu khách quan đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của một nước. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực như : trao đổi hàng hóa, dịch vụ, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và khu vực, lưu chuyển vốn quốc tế,… tạo điều kiện cho các quốc gia có thể hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật công nghệ,… trong hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, nó cũng làm cho quá trình cạnh tranh ngày càng gay gắt và sâu sắt hơn, tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) được mạnh hơn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả và lành mạnh hơn, tạo thuận lợi cho phát triển và tăng trưởng nền kinh tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới của hệ thống ngân hàng VN, tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm về vốn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ, hoạch định chính sách tiền tệ,… Từ đó có giải pháp phòng ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín kinh doanh trên thị trường tài chính quốc tế .
Trong xu thế đó, VN đã có những chủ động và đang từng bước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Sau gần 20 năm thực hiện mở cửa tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế đã đạt một số thành tựu đáng khích lệ, tốc độ phát triển kinh tế khá cao và ổn định, kiểm soát được lạm phát, đời sống vật chất của người dân khá ổn định. Trong lĩnh vực ngân hàng, với chức năng và vai trò là kênh huy động và cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, các NHTM đã không ngừng mở rộng quy mô hoạt động và đối tượng khách hàng thông qua các quan hệ tín dụng tiền tệ và phát triển các hoạt động dịch vụ ngân hàng khác .
Để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi các NHTM VN phải từng bước chuyên môn hóa sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, nhanh chóng tiếp cận và phát triển các hình thức dịch vụ ngân hàng hiện đại, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngân hàng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại.
1. Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng VN
Tình hình phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung và TP.HCM nói riêng trong thời gian qua tuy gặp phải một số khó khăn nhất định như: tình hình chiến tranh ở Iraq, dịch bệnh Sars, hạn hán lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi, dịch cúm gà đã tác động đến phát triển các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm, giá cả hàng hóa là nguyên liệu đầu vào tăng cao (sắt thép, nguyên liệu ngành nhựa, xăng dầu,…) đã làm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo kịp thời và xử lý hiệu quả của Chính phủ, hoạt động tín dụng ngân hàng đã cung ứng lượng vốn rất lớn cho nền kinh tế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, đưa quy mô năm 2004 so với năm 1990 về giá trị GDP lớn gấp 2,74 lần, về công nghiệp gấp 6,5 lần, về xuất khẩu gấp 10,8 lần,…Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng cũng góp phần vào chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình một nước công nghiệp: tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng ngày càng nhiều trong khi tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản giảm xuống .
Bảng 1 : Cơ cấu kinh tế ngành qua các năm
|
Ngành
|
1990
|
1995
|
2000
|
2004
|
|
Nông, lâm nghiệp-thủy sản
|
38,7%
|
27,2%
|
24,5%
|
21,8%
|
|
Công nghiệp – xây dựng
|
22,7%
|
28,7%
|
36,7%
|
40,1%
|
|
Dịch vụ
|
18,6%
|
40,3%
|
38,7%
|
32,2%
|
(Nguồn : Kinh tế 2004-2005- VN & Thế giới, Thời báo kinh tế VN)
Riêng hoạt động tín dụng trên địa bàn TP.HCM cũng đã có nhiều đóng góp vào việc phát triển nền kinh tế thành phố theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa với nhiều hình thức phong phú như: cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, cho vay trả góp,… Chúng ta có thể thấy mức tăng trưởng tín dụng qua bảng số liệu sau:
Bảng 2 : Mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM trên địa bàN TP.HCM
Đơn vị tính: tỷ đồng
|
|
2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
|
Dư nợ cho vay
|
52,194
|
56,189
|
74,244
|
101,006
|
136,621
|
|
% so với năm trước
|
20.14%
|
7.65%
|
32.13%
|
36.05%
|
35.26%
|
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.HCM 2000-2004
Qua bảng 2 cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM trên địa bàn TP.HCM nhìn chung tăng đều qua các năm. Tính đến 31.12.2004 tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống NHTM trên địa bàn là 136.621 tỷ VNĐ, tăng 35,26% so với năm 2003, đã cung ứng một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế nói chung và góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của TP.HCM nói riêng:
- Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 11,6% so với năm 2003, là mức tăng cao nhất từ năm 1998 .
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,1% so với năm 2003.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng xấp xỉ năm 2003.
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 11,1% so với năm 2003.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tăng 33,6%.
- Tổng vốn đầu tư phát triển đạt 42.996 tỷ, tăng 2,4% so với kế hoạch và tăng 15,6% so với năm 2003.
Có thể nói thời gian qua hệ thống ngân hàng VN đã có những cải thiện đáng kể về năng lực thể chế, tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối góp phần vào sự cung ứng vốn cho nền kinh tế phát triển. Trong đó, hệ thống dịch vụ ngân hàng là một trong những hoạt động dịch vụ quan trọng có thể cung ứng lượng vốn lớn cho nền kinh tế cũng như nhiều tiện ích cho xã hội.
Bảng 3 : Tổng hợp tình hình hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn TP.HCM 2001 - 2004
Đơn vị tính : Tỷ VNĐ, triệu USD
|
Dịch vụ ngân hàng
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
|
1. Dịch vụ huy động vốn
|
|
- Tổng huy động vốn
|
65.716
|
85.996
|
114.572
|
150.337
|
|
- Tốc độ tăng trưởng
|
16,9%
|
30,9%
|
33,2%
|
31,2%
|
|
2. Dịch vụ tín dụng
|
|
- Dư nợ cho vay
|
56.189
|
74.243
|
101.006
|
136.624
|
|
- Tốc độ tăng trưởng
|
17,5%
|
32,1%
|
36,0%
|
35,3%
|
|
3. Dịch vụ thanh toán
|
|
- Khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt
|
870.744
|
1.112.312
|
1.118.012
|
1.750.600
|
|
Trong đó :
|
|
|
|
|
|
+ Thanh toán thẻ
(VNĐ, ngoại tệ quy VNĐ)
|
204
|
7.900
|
9.039
|
11.430
|
|
+ Thanh toán Sec
|
2.948
|
4.480
|
5.921
|
9.450
|
|
+ UNT
|
33.269
|
43.035
|
35.641
|
44.064
|
|
+ UNC
|
648.244
|
846.509
|
807.072
|
1.170.871
|
|
+ Khác
|
156.079
|
197.689
|
260.339
|
514.785
|
|
+ Số lượng tài khoản cá nhân
|
114.000
|
150.000
|
205.000
|
447.845
|
|
+ Số dư tiền gửi tài khoản cá nhân
|
1.560
|
2.988
|
3.867
|
8.759
|
|
4. Dịch vụ ngoại hối
|
|
|
|
|
|
- Doanh số mua ngoại tệ
|
6.834
|
7.175
|
9.214
|
13.924
|
|
- Doanh số bán ngoại tệ
|
6.607
|
7.008
|
8.198
|
13.048
|
|
- Thanh toán mậu dịch
|
|
|
|
|
|
+ Hàng nhập
|
5.098
|
5.177
|
6.944
|
9.016
|
|
+ Hàng xuất
|
4.487
|
4.335
|
4.999
|
6.199
|
|
- Thanh toán phi mậu dịch
|
|
|
|
|
|
+ Thu
|
5.152
|
4.533
|
5.286
|
6.708
|
|
+ Chi
|
3.672
|
2.937
|
3.780
|
5.340
|
|
- Kiều hối
|
829
|
1.057
|
1.690
|
1.891
|
|
- Thu đổi ngoại tệ
|
906
|
1.283
|
1.324
|
1.537
|
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.Hồ Chí Minh 2001-2004
1.1. Dịch vụ huy động vốn: Các NHTM đã có nhiều hình thức huy động vốn đa dạng và phong phú, với nhiều tiện ích như: Gửi 1 nơi rút nhiều nơi, lãi suất linh hoạt và hấp dẫn, chuyển khoản dễ dàng, thủ tục nhanh gọn, thuận tiện,… thu hút ngày càng khách hàng và người dân đến gửi tiền. Năm 2004 huy động vốn của các NHTM trên địa bàn đạt 150.337 tỷ đồng, tăng 31,2% so với năm 2003 và tăng 129% so với năm 2001 .
1.2. Dịch vụ tín dụng: Các NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng phát triển với nhiều hình thức tín dụng như: tín dụng kích cầu, tín dụng tiêu dùng, tín dụng phục vụ phát triển nông thôn; đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư với nhiều hình thức đầu tư như: cho vay trực tiếp, tài trợ dự án, góp vốn, đầu tư các loại giấy tờ có giá,… Kết quả năm 2004 hoạt động tín dụng đạt 136.624 tỷ đồng, tăng 35,3% so với năm 2003 và tăng 143% so với năm 2001 .
1.3. Dịch vụ thanh toán: Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thanh toán đã tạo ra khả năng thanh toán nhanh, chính xác, an toàn và bảo mật và thu hút nhiều tổ chức kinh tế, khách hàng quan hệ giao dịch và thanh toán với ngân hàng. Tổng số lượng tài khoản cá nhân năm 2004 đạt 447.845 tài khoản, tăng gần 4 lần so với năm 2001, tốc độ mở rộng và phát triển tài khoản cá nhân trên địa bàn ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng phát triển.
1.4. Dịch vụ ngoại hối: Năm 2004, kết quả hoạt động ngoại hối như sau :
- Tổng doanh số mua ngoại tệ đạt 13.924 triệu USD, tăng 47,7% so với năm 2003 và tăng 2 lần so với năm 2001.
- Tổng doanh số bán ngoại tệ đạt 13.048 triệu USD, tăng 47% so với năm 2003 và tăng 97% so với năm 2001.
- Thanh toán mậu dịch: Thanh toán hàng nhập đạt 9.016 triệu USD, tăng 32,4% so với năm 2003; thanh toán hàng xuất đạt 6.199 triệu USD, tăng 27,4% so với năm 2003. Bội chi thanh toán mậu dịch là : 2.817 triệu USD.
- Thanh toán phi mậu dịch: Tổng thu đạt 6.708 triệu USD, tăng 19,1% so với năm 2003; tổng chi đạt 5.340 triệu USD, đạt 42,2% so với năm 2003. Bội thu thanh toán phi mậu dịch là 1.368 triệu USD.
1.5. Dịch vụ ngân quỹ: Hoạt động dịch vụ ngân quỹ của các NHTM trên địa bàn ngày càng phát triển. Các NHTM tổ chức thu, chi hộ trực tiếp tại các công ty, tổ chức kinh tế tạo điều kiện cho khách hàng tiết kiệm thời gian và an toàn hơn trong việc thu chi .
1.6. Dịch vụ khác: Dịch vụ ngân hàng điện tử (home banking, internet banking, ebanking,…), thẻ ngân hàng (ATM),… Sự phát triển các loại hình dịch vụ này sẽ tạo nhiều thuận lợi, tiện ích và an toàn cho khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các hoạt động dịch vụ khác trong nền kinh tế phát triển như: hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh xuất nhập khẩu, du lịch dịch vụ,…
(Còn tiếp)
Mục lục bài viết Phát triển hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn TP.HCM |
|
|
|
|
|