Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Văn bản mới nhất
Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt  của Việt Nam để thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Hàn Quốc giai đoạn 2009-2011 (Theo QĐ 112/2008/QĐ-BTC)
Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Hàn Quốc giai đoạn 2009-2011 (Theo QĐ 112/2008/QĐ-BTC)Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt  của Việt Nam để thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Trung Quốc giai đoạn 2009-2011 (Theo QĐ 111/2008/QĐ-BTC)
Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Trung Quốc giai đoạn 2009-2011 (Theo QĐ 111/2008/QĐ-BTC)Về việc hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm
Thông tư số 108/2008/TT-BTC Hướng dẫn kế toán khi chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần 
Thông tư 106/2008/TT-BTCVề việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại 
Quyết định 106/2008/QĐ-BTC
Tin tức
‘Tăng nhiệt’ thị trường dịch vụ tài chính bán lẻ  ‘Tăng nhiệt’ thị trường dịch vụ tài chính bán lẻ
VNS tặng 100% thuế thu nhập chứng khoán cho khách hàngVNS tặng 100% thuế thu nhập chứng khoán cho khách hàng
Thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quảThực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả
Chứng khoán ngày cuối nămChứng khoán ngày cuối năm
Viettel nhảy vào lĩnh vực tài chính, ngân hàngViettel nhảy vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Công ty tài chính không được chiết khấu thẻ tiết kiệmCông ty tài chính không được chiết khấu thẻ tiết kiệm
Công khai tiêu chí miễn giảm thuế nhằm hạn chế tiêu cực Công khai tiêu chí miễn giảm thuế nhằm hạn chế tiêu cực
IPO DN tài chính - ngân hàng: Khó vẫn phải làm?IPO DN tài chính - ngân hàng: Khó vẫn phải làm?
Quản chặt cung hàngQuản chặt cung hàng
Nhiều kiểm toán viên không được chấp thuận tư cách kiểm toán viên do vi phạm trong quá trình kiểm toánNhiều kiểm toán viên không được chấp thuận tư cách kiểm toán viên do vi phạm trong quá trình kiểm toán
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Phương pháp xác định chi phí huy động vốn và sử dụng các thước đo chi phí huy động vốn
TCKT cập nhật: 05/06/2006

post-1358-1101092627 Theo cách nói truyền thống, một ngân hàng có hai lãnh vực kinh doanh nòng cốt: huy động vốn và lựa chọn tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn vốn huy động được. Các ngân hàng luôn nỗ lực để tạo ra lợi nhuận từ hai lĩnh vực này.

Do đó, phương pháp xác định chi phí huy động vốn rất hữu ích cho ngân hàng để xây dựng chính sách kinh doanh có hiệu quả. Có hai lý do chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi xác định chi phí huy động vốn: 

 - Tính toán tương đối chính xác chi phí huy động vốn là yếu tố cơ bản để xác định mức lợi nhuận mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản có sinh lời.  

 - Loại hình nguồn vốn mà ngân hàng huy động được và việc sử dụng nguồn vốn nầy ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro vốn. 

Có 3 phương pháp được các ngân hàng áp dụng phổ biến là: chi phí trung bình theo nguyên giá; chi phí biên của từng nguồn vốn huy động và chi phí bình quân gia quyền dự kiến cho tất cả nguồn vốn. Mỗi phương pháp có một ý nghĩa tuỳ theo mục đích sử dụng của con số chi phí huy động vốn tính toán được. 

1. Chi phí bình quân gia quyền theo phương pháp nguyên giá (Historical average cost method)  

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Phương pháp này chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguốn vốn mà ngân hàng đã huy động được trong quá khứ và xem xét cẩn thận mức lãi suất mà thị trường đã áp đặt ngân hàng phải trả cho mỗi nguồn vốn đi vay. Tích số của lãi suất phải trả và tổng mức vốn đi vay được sử dụng trong quá khứ tạo thành chi phí nguồn vốn bình quân gia quyền. Nó được tính toán theo công thức lấy chi phí trả lãi chia cho tổng số vốn đi vay và tiền gởi :  


Chi phí trả lãi bình quân gia quyền = 

Chi phí trả lãi 

Tổng số vốn đi vay và tiền gởi 

Chi phí trả lãi bình quân gia quyền của các nguồn vốn hưởng lãi  


 = 

Chi phí trả lãi 

Tổng số vốn đi vay và tiền gởi 

Ví dụ: Giả sử một ngân hàng có số dư cuối kỳ trên sổ sách như sau: 

Nguồn vốn ngân hàng 

Số dư cuối kỳ (triệu USD) 

Lãi suất bình quân phải trả (%) 

Tổng chi phí lãi phải trả (triệu USD) 

Tài khoản dùng séc 

65 

0,0 

0,00 

Tài khoản NOW 

35 

5,0 

1,75 

Tiền gởi tiết kiệm 

40 

5,5 

2,20 

Chứng chỉ tiền gởi 

32 

9,4 

3,01 

Tài khoản tiền gởi thị trường tiền tệ 

38 

8,2 

3,12 

Vay thị trường tiền tệ (nguồn phi tiền gởi) 

15 

8,5 

1,28 

Tổng số nguồn vốn 

225 

 

11,36 (tổng chi phí lãi) 

Chi phí lãi phải trả bình quân gia quyền của ngân hàng trên sẽ là :  

 Chi phí lãi bình quân = tổng chi phí lãi: tổng nguồn vốn vay. 

  = 11,36 : 225 triệu = 5,05% 

 Trong trường hợp này ngân hàng cần phải kiếm cho được tỷ suất sinh lợi từ các khoản cho vay và đầu tư ít nhất là 5,05% thì mới đủ bù đắp chi phí lãi phải trả cho nguồn vốn huy động.  

 Phương pháp này có ích khi sử dụng để đánh giá tình hình huy động vốn trong quá khứ, nhưng nó có các nhược điểm sau: 

 - Một vài loại hình nguồn vốn được đem đầu tư vào các tài sản có không sinh lời như dự trữ bắt buộc, tài sản cố định, dự trữ thanh toán, đóng phí bảo hiểm tiền gởi. Hơn nữa mỗi loại nguồn vốn và qui mô hoạt động của mỗi ngân hàng lại có mức dự trữ bắt buộc và yêu cầu dự trữ thanh khoản rất khác nhau. Trong trường hợp này do tỷ suất lợi nhuận không thu được lại thay đổi tuỳ theo loại hình nguồn vốn khác nhau nên cần phải có những điều chỉnh về chi phí và lợi nhuận cần thu được để bù đắp chi phí trả lãi.  

 - Nó không bao gồm các chi phí liên quan đến huy động vốn như quảng cáo, chi phí khuyến mãi trong huy động vốn … 

 - Thiếu độ tin cậy nếu muốn sử dụng để làm cơ sở quyết định sẽ lựa chọn huy động loại hình nguồn vốn nào hoặc sẽ định giá tài sản có ra sao trong giai đoạn lãi suất biến động mạnh. 

 Đối với hai nhược điểm đầu có thể khắc phục bằng cách sử dụng tài sản sinh lợi làm cơ sở tính toán chi phí, tức là so sánh chi phí lãi và phi lãi trong huy động vốn với lượng tài sản sinh lợi thuần theo công thức sau: 


Chi phí trả lãi bình quân gia quyền = 

Chi phí trả lãi 

Tài sản có sinh lời 

 Khi chia cho tài sản có sinh lời tức là đã loại trừ phần nguồn vốn đã đầu tư vào tài sản không lời. 

Chi phí trả lãi bình quân gia quyền 


Chi phí trả lãi + chi phí liên quan huy động vốn 

Tài sản có sinh lời 

 2. Chi phí huy động vốn biên 

Phương pháp chi phí bình quân tuy có ưu điểm là đơn giản nhưng chỉ nhìn về quá khứ để xem xét chi phí và tỷ suất lợi nhuận tối thiểu đã thực hiện của ngân hàng. Trong khi đó, nhà quản trị ngân hàng con cần phải hướng về tương lai nữa với những quyết định của hôm nay và ngày mai. Phương pháp chi phí huy động vốn biên nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp chi trả lãi bình quân gia quyền dựa trên nguyên giá. Chi phí biên là chi phí bỏ ra để có thêm một đồng vốn huy động. Căn cứ vào chi phí biên, ngân hàng xác định mức lợi nhuận tối thiểu cần đạt được từ những tài sản có thêm từ các nguồn vốn này. 


Chi phí trả lãi bình quân gia quyền = 

Chi phí trả lãi tăng thêm 

Tổng số vốn huy động tăng thêm 

Lợi nhuận vẫn thu được từ tài sản có sinh lời tăng thêm nhờ sử dụng nguồn vốn huy động thêm:  


Chi phí trả lãi bình quân gia quyền = 

Chi phí trả lãi tăng thêm 

Tài sản có sinh lời tăng thêm 

Công thức chi phí huy động vốn biên trên đây áp dụng trong trường hợp chi phí huy động của một loại nguồn vốn. Chi phí biên này được sử dụng khi ngân hàng quyết định nên huy động từ một loại nguồn vốn nào.  

Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, để tài trợ khoản cho vay ngân hàng sẽ huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Như vậy, phương pháp chi phí huy động vốn biên cần phải quan tâm xem xét việc ngân hàng phải tập hợp huy động mọi nguồn vốn, tức là chi phí huy động vốn hỗn hợp từ một số loại nguồn vốn. Chi phí biên hỗn hợp này được sử dụng định giá tài sản có tăng thêm. Rõ ràng là phương pháp chi phí vốn huy động vốn biên đã xác lập một tiêu chuẩn chặt chẽ hơn cho việc đính giá các dịch vụ của định chế tài chính, bao gồm các dịch vụ tiền gởi và huy động vốn khác. 

 3. Chi phí dự kiến bình quân gia quyền  

Đây là chi phí dự kiến bình quân gia quyền của tất cả các nguồn vốn làm kết quả ước đoán chi phí biên huy động, để từ đó xác định mức lãi cần có đối với tài sản có sinh lời. Phương pháp này có ích cho nhà quản trị. Nó giúp cho ngân hàng theo dõi chi phí huy động vốn bình quân theo thời gian, xem có xảy ra chiều hướng nào ngược lại hay không, và mức chi phí lãi bình quân cung cấp một chuẩn mực tương đối cho việc quyết định nên cho vay và đầu tư như thế nào. Việc ước tính chi phí này có thể hoàn thiện hơn bằng các xem xét câu hỏi: Ngân hàng cần phải đạt mức tỷ suất sinh lợi chung là bao nhiêu từ việc bán cả hai dạng dịch vụ, huy động vốn và từ việc sử dụng vốn huy động vào các tài sản sinh lời để có thể bù đắp toàn bộ chi phí huy động vốn của nó.  

 Việc lựa chọn nguồn tiền gởi hoặc phi tiền gởi của ngân hàng tuỳ thuộc không chỉ vào chi phí (giá) tương đối của mỗi nguồn mà còn phụ thuộc rủi ro của chúng đối với ngân hàng. Những nguồn vốn có chi phí thấp có thể có rủi ro cao cho ngân hàng và do vậy, sẽ tạo khả năng thiệt hại nghiêm trọng hơn. Nhà quản trị phải đương đầu với việc lựa chọn giữa chi phí và rủi ro, tức là việc đánh đổi giữa rủi ro và chi phí huy động vốn. Nguồn vốn chi phí thấp có thể phải chịu rủi ro cao về lãi suất, thanh khoản hay là vốn sở hữu. Như thế, mỗi khi phải huy động vốn mới, nhà quản trị phải lựa chọn một vị trí về tương quan ưu tiên giữa rủi ro và lợi nhuận trên bảng đối chiếu giữa rủi ro và chi phí theo từng cách phối hợp giữa các nguồn vốn.  

Sơ đồ tương quan lựa chọn giữa chi phí và rủi ro.

Theo sơ đồ trên, nhà quản trị có thể kết luận rằng nguồn vốn hiện đang sử dụng có chi phí trên 1 đồng vốn huy động quá đắt, do vậy mà lợi nhuận thuần bị ảnh hưởng nghiêm trọng và cần phải có một hỗn hợp nguồn vốn kiểu khác. Từ đó, ngân hàng có thể mong muốn thay đổi lối kết cấu nguồn vốn từ điểm A (chi phí C1, mức rủi ro R1) sang điểm B (chi phí C2 thấp hơn, mức rủi ro R2). Nhà quản trị phải quyết định vị trí rủi ro, chi phí thích hợp nhất với mục tiêu của ngân hàng và mong muốn cổ đông góp vốn. 

 Việc định giá nguồn vốn đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện những mục tiêu của ngân hàng. Giá cả chính là công cụ mà mỗi ngân hàng có thể chọn để nhằm đạt được mức và kết cấu nguốn vốn cho phép ngân hàng nâng cao khả năng sinh lời và các mục tiêu khác, dẫu cho rằng mỗi ngân hàng không thể tự quyết định mức giá mà là do thị trường dẫn dắt. Việc định giá các nguồn vốn tác động sâu sắc đến chi phí của ngân hàng cũng như đến loại và tư cách khách hàng mà ngân hàng chọn giao dịch. Rõ ràng là giá cả của nguồn vốn huy động có ảnh hưởng tới qui mô, kết cấu và mức lãi chênh lệch của tất cả các nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng.  

 Trong giai đoạn tự do hóa tài chính hiện nay, việc định giá nguồn vốn tiền gởi và các nguồn vốn khác chính là một bài toán mà mỗi nhà quản trị phải tự đi tìm lời giải. Không có lời giải sẵn cho họ. 

 Sau khi cân nhắc tác động của từng loại nguồn vốn khác nhau dựa trên chi phí huy động vốn hay chính sách huy động cốn để định hướng cho hành động cụ thể. Nói cách khác, ngân hàng sử dụng quan điểm marketing để xác định nhu cầu của khách hàng và thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Như vậy, một chiến lược huy động vốn thành công (huy động được một lượng vốn cần thiết cho hoạt động của đơn vị mình) khi nó thu hút sự quan tâm của khách hàng.

(Theo TCKTPT)

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Gia Dinh
bizviet
Kế toán
Vận dụng các phương pháp tính giá xuất kho trong việc ghi nhận kế toán các khoản đầu tư tài chính tại công tyVận dụng các phương pháp tính giá xuất kho trong việc ghi nhận kế toán các khoản đầu tư tài chính tại công ty
Chế độ kế toán DN theo quy định hiện hành- Những vấn đề cần trao đổiChế độ kế toán DN theo quy định hiện hành- Những vấn đề cần trao đổi
Một số giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong DNMột số giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong DN
Một số ý kiến về kế toán ghi nhận doanh thu tiêu thụ điện tại Tập đoàn Điện lực Việt NamMột số ý kiến về kế toán ghi nhận doanh thu tiêu thụ điện tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Sự kiện thành lập kiểm toán Nhà nước năm 1994 -Nhìn lại sau 14 năm hoạt độngSự kiện thành lập kiểm toán Nhà nước năm 1994 -Nhìn lại sau 14 năm hoạt động
Kiểm toán
Mối quan hệ giữa KTNN với HĐND và UBND trong kiểm toán ngân sách địa phương – Thực trạng và giải phápMối quan hệ giữa KTNN với HĐND và UBND trong kiểm toán ngân sách địa phương – Thực trạng và giải pháp
Thực hiện cải cách hành chính nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động của KTNN Thực hiện cải cách hành chính nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động của KTNN
“Thương hiệu Kiểm toán Nhà nước” và trách nhiệm của đội ngũ KTV “Thương hiệu Kiểm toán Nhà nước” và trách nhiệm của đội ngũ KTV
Kiềm chế lạm phát và vai trò của kiểm toán nhà nướcKiềm chế lạm phát và vai trò của kiểm toán nhà nước
Sự nghiệp đang cầnSự nghiệp đang cần
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Một số công cụ mà cơ quan quyền lực có thể sử dụng để giám sát ngân sách nhà nước.Một số công cụ mà cơ quan quyền lực có thể sử dụng để giám sát ngân sách nhà nước.
Tập đoàn thành lập ngân hàng- Chính sách khó vận dụngTập đoàn thành lập ngân hàng- Chính sách khó vận dụng
Bàn về chính sách thắt chặt tiền tệBàn về chính sách thắt chặt tiền tệ
Thuế - phí
Bộ Tài chính Ban hành Thông tư hướng dẫn về Thuế Thu nhập cá nhânBộ Tài chính Ban hành Thông tư hướng dẫn về Thuế Thu nhập cá nhân
Phương pháp xác định giá tính thuế bất động sản Phương pháp xác định giá tính thuế bất động sản