|
(Bài viết có 2 trang. Bạn đang xem trang 2)
Hiện nay, một khối lượng lớn vốn tiền gửi thanh toán của Hệ thống KBNN được gửi tại các NHTM Nhà nước. Bảng số liệu sau đây nêu rõ thực trạng này:
TÌNH HÌNH SỐ DƯ TIỀN GỬI CỦA KBNN TẠI 5 NHTM NHÀ NƯỚC
Đơn vị tính: Triệu đồng
Thời điểm
|
31/12/2006- 31/12/2007
|
|
Số tiền gửi của KBNN tại 5 NHTM Nhà nước
|
43.548.443 – 52.777.829
|
Ghi chú: BCTC của 5 NHTM Nhà nước và tổng hợp của tác giả.
Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của KBNN (NSNN) nên được quản lý như thế nào để phối hợp tốt với việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, để tăng hiệu quả cho NSNN?
Khảo sát nghiệp vụ tại một số nước, ví dụ tại Cộng hòa Séc, Nhật Bản,…Chúng ta có thể tìm thấy một thông lệ tốt, một câu trả lời rõ ràng đối với vấn đề này: Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của KBNN (NSNN) phải gửi tại NHTW, cuối ngày, thậm chí tức thời trạng thái ngân quỹ của NSNN (tối thiểu là trạng thái ngân quỹ của NSNN trung tương) được thể hiện tập trung ở số dư tài khoản duy nhất tại NHTW. Khi NSNN thiếu hụt thanh khoản tạm thời, NSNN có thể vay trên thị trường, vay các NHTM và không trực tiếp vay vốn từ NHTW; ngược lại, khi NSNN thừa vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, NSNN có thể cho vay qua đêm/cho vay ngắn hạn vài ngày trên thị trường đối với các TCTD/định chế tài chính. Đồng thời, xét ở phương diện thống kê tiền tệ để tính lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế thì: tiền còn nằm ở Quỹ của KBNN (trong tay Chính phủ), tiền đó cũng chưa được tính trong Tổng phương diện thanh toán của nền kinh tế.
Một cơ chế nghiệp vụ được mô tả như trên sẽ giúp NHTW kiểm soát tốt hơn Tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, vòng quay tiền tệ, khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng và tốc độ tăng trưởng tín dụng. Mặt khác, sẽ tiết kiệm chi phí và tăng thu cho NSNN.
Hiện nay, với hàng ngàn tỷ đồng tạm thời nhàn rỗi của KBNN gửi tại các NHTM Nhà nước và các đơn vị này sử dụng để cho DN, cá nhân vay; tiến độ thực tế giải ngân chi tiêu vốn NSNN cho các công trình, dự án ra sao? Những người điều hành chính sách tiền tệ không nắm được thông tin đầy đủ, kịp thời? Đó là chưa tính đến một thực trạng của nước ta hiện nay là tốc độ giải ngân của các dự án sử dụng vốn từ nguồn vốn NSNN đã bố trí quá thấp, có sự chênh lệch jlớn giữa kế hoạch và thực tế. Ví dụ, từ năm 2003 đến năm 2007, Bộ Giao thông vận tải mới chỉ giải ngân được 45,89% số vốn dự kiến bố trí, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông giải ngân đạt 33.5% và chỉ có 3/72 dự án công trình được hoàn thành (Tác giả Nguyên linh, Thời báo kinh tế Việt Nam số 51, ngày 28/2/2008). Theo quan điểm của tác giả, đây cũng là nguyên nhân làm cho việc điều hành chính sách tiền tệ thiếu chủ động, không dự toán tốt được tình hình thị trường, không kiểm soát được khả năng tạo tiền và không khống chế tốt được tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng cao so với nhiều năm trước, tăng 37,8%.
Trong năm 2007, để hạn chế tổng phương tiện thanh toán, NHNN Việt Nam sử dụng nhiều biện pháp, trong đó đã phải sử dụng mạnh biện pháp tăng dự trữ bắt buộc: “Tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lên từ 1,5-2 lần” (Tạp chí Ngân hàng số 2+3/2008). Ngay từ đầu năm 2008, NHNN cũng đã triển khai đồng loạt nhiều giải pháp mạnh nhằm thắt chặt tiền tệ để hạn chế, kiểm soát lạm phát như tăng tỷ lệ dự trữ bát buộc từ 10% lên 11%, mở rộng phạm vi tiền gửi phải dự trữ bắt buộc (tiền gửi có kỳ hạn cũng phải dự trữ bắt buộc), thực hiện phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc mua đối với các ngân hàng, kiểm soát cho vay đối với kinh doanh bất động sản, cho vay chứng khoán, tăng lãi suát tái cấp vốn từ 6m5%/năm lên 7.5%/năm, lãi suất chiết khấu từ 4,5% năm lên 6,0%/năm. Điều tất yếu là chi phí nguồn vốn của các NHTM tăng, lãi suất cho vay các DN phải tăng, đẩy chi phí sản xuất lên cao và không tránh khỏi một số tác động xấu khác. Tuy nhiên, trong “cuộc chiến” kiềm chế, kiểm soát chống lạm phát, chỉ những biện pháp của NHNN sẽ không thể có hiệu quả cao hoặc không thể có hiệu quả, cần phải có sự phối hợp đồng bộ các giải pháp vĩ mô khác, trong đó đặc biệt những chính sách về quản lý, chi tiêu tài chính công.
Tình trạng tiền gửi nhàn rỗi của KBNN gửi tại các NHTM Nhà nước bắt đầu thực hiện ở Việt Nam khi Chính phủ thành lập Hệ thống KBNN có chức năng kiểm toán, quản lý Quỹ NSNN, NHNN không còn thực hiện nhiệm vụ này. Đồng thời, trong điều kiện Hệ thống thanh toán qua ngân hàng chưa phát triển: thanh toán, chuyển tiền khác ngân hàng, khác địa bàn còn quá chậm, thời gian thanh toán mất vài ngày. Nhưng hiện nay, điều kiện đã thay đổi căn bản, hệ thống thanh toán qua ngân hàng đã rất phát triển, một khoản thanh toán chuyển tiền khác qua ngân hàng, khác địa bàn chỉ cần vài giây, nếu chậm thì cần 1 ngày; trên cơ sở đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hầu hết các ngân hàng, định chế tài chính đã thực hiện quản lý trạng thái ngân quỹ tập trung tại Hội sở chính thông qua tài khỏan tiền gửi tậpt rung duy nhất tại Sở Giao dịch NHNN, tránh tình trạng nguồn vốn bị phân tán khắp nơi, chi nhánh thiếu vốn thanh toánphải vay nóng trên thị trường với mức lãi suất rất cao, chi nhánh thừa vốn chỉ hưởng lãi suất tiền gửi thanh toán ở mức rất thấp.
Như nội dung đã phân tích, đã đến lúc có thể thực hiện và cần phải thực hiện sớm giải pháp: Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước gửi tại Ngân hàng Nhà nước- Một giải pháp thiết thực góp phần kiểm soát lạm phát và chống lãng phí cho NSNN. KBNN không nên để tình trạng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của Quỹ Ngân sách Trung ương bị phân tán khắp nơi, cần hoàn thiện hệ thống thanh toán, chuyển tiền nội bộ và mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHNN, thực hiện cơ chế quản lý Quỹ Ngân sách Trung ương tập trung tại Trụ sở chính thông qua TK tiền gửi duy nhất của Kho bạc Nhà nước tại Sở giao dịch NHNN.
TS Văn Thanh- NHNN
THS Nguyễn Đình Tuấn – Kiểm toán Nhà nước
(Tạp chí NC Khoa học Kiểm toán)
Tapchiketoan.com
Mục lục bài viết Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước gửi tại NHNN- Một giải pháp góp phần kiểm soát lạm phát và hạn chế lãng phí cho NSNN |
|
|
|
|
|