 |
|
Thị trường chứng khoán là một kênh quan trọng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
|
Dòng
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) không chỉ mang lại vốn mà còn có
vai trò quan trọng thúc đẩy thị trường tài chính phát triển theo hướng
nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng qui mô và tăng tính minh bạch;
nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp...
Tuy nhiên, dòng vốn này cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các
kênh huy động vốn nước ngoài khác. Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút FII
ổn định và tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển
thị trường vốn và nền kinh tế Việt Nam đang là vấn đề được các cơ quan
hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp quan tâm.
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số ý kiến, giải pháp của
các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý, hoạch định chính sách cũng như các
doanh nghiệp nhằm thu hút vốn FII qua thị trường tài chính vừa được đưa
ra tại cuộc hội thảo do Viện Khoa học tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức
tuần qua.
Giải pháp thu hút dòng vốn gián tiếp
(Bà Nguyễn Thị Liên Hoa, Trưởng Ban phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
"Trong hai năm vừa qua, tốc độ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
đã được đẩy mạnh hơn so với những năm trước rất nhiều lần. Tới cuối
tháng 3 năm 2006, đã có 4.673 doanh nghiệp Nhà nước được tái cơ cấu,
trong đó có 3.298 doanh nghiệp được cổ phần hoá.
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những công ty có quy mô trung bình và
nhỏ, vốn Nhà nước trong những công ty này chỉ chiếm 8% trong tổng số
những doanh nghiệp Nhà nước phải cơ cấu lại. Vẫn còn nhiều các doanh
nghiệp Nhà nước cần phải cổ phần hoá trong những năm tới và đây là
những doanh nghiệp Nhà nước có số vốn khổng lồ và thực sự là cơ hội lớn
cho các nhà đầu tư trong nước cũng như ngoài nước.
Một khu vực tiềm tàng nữa mà có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài, đó chính là khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tư nhân. Hiện nay, có tới 97% của hơn 230.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt
động tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư
nhân rất năng động và phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một bộ phận
quan trọng của nền kinh tế.
Trong số đó, có một số không ít doanh nghiệp khẳng định được vị trí
của mình và đang trở thành những thương hiệu mạnh của Việt Nam. Tương
lai phát triển của các doanh nghiệp này càng trở nên rõ ràng hơn sau
khi Chính phủ ban hành hai bộ luật mới, đó là Luật Doanh nghiệp và Luật
Đầu tư.
Ngoài các doanh nghiệp tư nhân và thuộc sở hữu Nhà nước, những công
ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán cũng đang là những đầu mối hút
vốn gián tiếp quan trọng. thị trường chứng khoán Việt Nam cũng bắt đầu
có những sự khởi sắc nhất định trong giai đoạn vừa qua.
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 41 công ty niêm yết tại Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu thị trường vào trung tuần
tháng 7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội là 15.000 tỷ VND.
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm
tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD). Trong thời gian sắp tới, sẽ có
ít nhất 7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ
chiếm tỷ trọng ít nhất 8,5% GDP trong năm nay.
Sự phát triển chung của cả nền kinh tế cùng những cải cách mạnh mẽ
về thể chế và khuôn khổ pháp lý trong nỗ lực gia nhập WTO đã được các
nhà đầu tư nước ngoài chú ý.
Mặc dù vậy, số lượng các quỹ này vẫn chưa thật sự nhiều và chưa
tương xứng với tiềm năng thị trường. Nguyên nhân cơ bản nhất là do quy
mô và chất lượng các sản phẩm của thị trường tài chính Việt Nam còn hạn
chế.
Sự hiện diện của các nhà đầu tư có tổ chức và đặc biệt các quỹ đầu
tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của cả thị trường. Sự góp
mặt của các nhà đầu tư có tổ chức không chỉ góp phần tăng cầu và tính
thanh khoản cho thị trường, mà quan trọng hơn, các tổ chức này sẽ định
hướng và xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách
chuyên nghiệp. Bằng cách này sẽ giảm thiểu những dao động “phi thị
trường” tạo ra bởi những giao dịch mang tính đầu cơ, tăng tính ổn định
cho thị trường.
Với vai trò là các cổ đông có kinh nghiệm, các nhà đầu tư tổ chức
còn góp phần cải thiện thực tiễn quản trị công ty tại các công ty niêm
yết, ảnh hưởng tích cực tới lợi nhuận kinh doanh của công ty. Việc gây
dựng, tạo cơ sở phát triển các nhà đầu tư có tổ chức sẽ là mục tiêu cơ
bản để phát triển thị trường của Việt Nam trong thời gian tới.
Một trong những yếu tố đầu tiên quan trọng nhất để thu hút vốn đầu
tư gián tiếp nước ngoài là tình hình kinh tế, chính trị của nước tiếp
nhận vốn. Hiển nhiên là một nền kinh tế có tốc độ phát triển kinh tế
cao và ổn định sẽ được sư chú ý nhiều hơn bởi các nhà đầu tư. Các nước
có nền kinh tế phát triển cao cho phép các nhà đầu tư có nhiều cơ hội
có được suất sinh lợi cao trên tổng vốn đầu tư.
Như vậy, vấn đề cơ bản là tiếp tục thực hiện các chính sách kinh tế
vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng của cả nền kinh tế. Mặt khác, để thúc đẩy
hoạt động của các quỹ đầu tư, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp
cụ thể như: tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý, khuôn khổ quản lý thị
trường; phát triển quy mô thị trường; xây dựng và triển khai áp dụng
các chuẩn mực quốc tế về quản trị và điều hành doanh nghiệp, quản lý
Nhà nước; tăng tính minh bạch của thị trường chứng khoán, thị trường
OTC và tại các doanh nghiệp cổ phần tư nhân; ban hành các chính sách
khuyến khích hoạt động lâu dài của các quỹ đầu tư nước ngoài..."
Minh bạch thông tin và đồng bộ chính sách
(Ông Hồ Công Hưởng, Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư Phát triển)
"Phải thừa nhận rằng, xét về quy mô và tốc độ phát triển, thị trường
chứng khoán Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của nền
kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Số lượng và
chất lượng các thông tin tài chính còn thiếu và yếu.
Mặc dù Luật Chứng khoán sắp có hiệu lực, đối tượng công ty đại chúng
được mở rộng nhưng chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính, chất lượng
quản trị công ty đại chúng vẫn còn nhiều bất cập. Do vẫn có sự khác
biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế, các nhà đầu tư nước
ngoài còn e dè khi đọc các báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán
trong nước thực hiện. Việc phát triển và mở rộng quy mô của thị trường
trái phiếu vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Dịch vụ định mức tín nhiệm và
thống kê dữ liệu ngành hầu như không có.
Hai là sự thiếu và không đồng bộ về mặt luật pháp. Luật Chứng khoán
tới đầu năm 2007 mới có hiệu lực. Mặc dù Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp
mới được ban hành trong năm 2006 nhưng chưa thể đi vào vận hành vì
thiếu hệ thống nghị định, thông tư hướng dẫn. Luật không quy định được
vấn đề chi tiết nên phải chờ các văn bản hướng dẫn của các bộ, ban,
ngành.
Ví dụ, đóng góp vào dự thảo Nghị định Chính phủ về việc mua cổ phiếu
ngân hàng, VAFI đã có nhận xét Nghị định trên mang tính “khó hiểu, rắc
rối, không cần thiết”, “cản trở sự phát triển của ngân hàng” và “không
khuyến khích các tổ chức tài chính nước ngoài mua cổ phần ngân hàng”.
Hay như Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp đã xoá bỏ tỷ lệ hạn chế cổ
phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam, chỉ trừ
những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì phải giới hạn tỷ lệ sở
hữu. Tuy nhiên hiện vẫn chưa có danh mục những ngành nghề kinh doanh có
điều kiện này.
Thứ ba, sự kết nối giữa nhà đầu tư và cơ hội đầu tư là yếu. Hiện nay
số lượng công ty chứng khoán có khả năng cung cấp thông tin bằng các
ngôn ngữ chính như Anh, Pháp, Trung, Nhật, Hàn... không nhiều. Các rào
cản về ngôn ngữ và thông tin đã hạn chế các dòng vốn nước ngoài đầu tư
trực tiếp vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Với niềm tin tưởng và sự lạc quan vào bước ngoặt lớn của thị trường
vào cuối năm nay khi chúng ta gia nhập WTO, chúng tôi xin có một số
kiến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách.
Một là, cần sớm ban hành đầy đủ và đồng bộ các văn bản hướng dẫn
thực hiện Luật đầu tư và Luật chứng khoán trên tinh thần tiến đến mục
tiêu tự do hoá nguồn vốn đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp, bảo vệ quyền
lợi của nhà đầu tư.
Hai là, thực hiện minh bạch hoá, khai thông kênh thông tin đối với
giới đầu tư. Khuyến khích các công ty định mức tín nhiệm có uy tín như
Standard & Poor’s, Moody thành lập chi nhánh tại Việt Nam.
Ba là, khuyến khích các tổ chức tài chính nước ngoài mua cổ phần
ngân hàng, công ty chứng khoán trong nước. Đây chính là một trong các
biện pháp giúp tăng năng lực của các công ty chứng khoán Việt Nam, tiến
tới phục vụ tốt cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Bốn là, tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các
doanh nghiệp Việt Nam, bãi bỏ giới hạn này đối với các ngành nghề không
trọng yếu và nâng giới hạn nắm giữ cổ phiếu đối với cổ phiếu ngân hàng
lên 49%, cho phép các quỹ đầu tư nước ngoài đặt chi nhánh tại Việt Nam."
Xếp hạng tín nhiệm để thu hút đầu tư
(Ông Đào Lê Minh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học và đầu tư chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
"Đối với các nền kinh tế mới nổi - với đặc trưng quá trình phát
triển kinh tế còn mới, thiếu bền vững, thiếu minh bạch, hệ thống pháp
lý và các quy chuẩn, quy phạm còn chưa hoàn thiện, việc quản trị công
ty còn yếu kém, thì vấn đề thông tin không đầy đủ được coi là một thách
thức cực kỳ lớn.
Chính vì vậy, trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi, định mức tín
nhiệm được coi là một trong những yếu tố then chốt giúp lấp đầy những
khoảng trống thông tin này và cho biết giá trị của một công ty, hoặc
của một quốc gia là như thế nào trong con mắt của các tổ chức đầu tư
quốc tế - những người nắm giữ luồng vốn lớn nhất.
Đây là một công cụ quan trọng không chỉ đối với các nhà đầu tư mà
còn đối với các tổ chức phát hành đang tìm kiếm các nhà đầu tư. Các mức
xếp hạng tốt có thể giúp một công cụ đầu tư, một công ty hoặc một quốc
gia thu hút được những nguồn vốn lớn từ trong và ngoài nước, góp phần
thúc đẩy nền kinh tế.
Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ cộng với nhu cầu về vốn
cho đầu tư và phát triển trong giai đoạn tới, cần phải coi định mức tín
nhiệm như một công cụ hỗ trợ đầu tư, góp phần tăng cường tính minh
bạch, chất lượng của các công ty trong nước cũng như mức độ tín nhiệm
quốc gia của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư quốc tế.
Thông thường, tùy theo việc phân loại các đối tượng xếp hạng mà các
tổ chức định mức tín nhiệm trên thế giới có thể cung cấp nhiều dịch vụ
cụ thể đối với từng đối tượng. Trong điều kiện thị trường vốn Việt Nam
còn nhỏ bé và định mức tín nhiệm còn là một khái niệm hết sức mới mẻ ở
Việt Nam, trong giai đoạn đầu hình thành, các tổ chức định mức tín
nhiệm ở Việt Nam chỉ nên triển khai một số nghiệp vụ cơ bản, cần thiết
cho sự phát triển của thị trường vốn trong nước.
Trước mắt, chúng tôi nhận thấy có 4 đối tượng cần được ưu tiên triển khai việc định mức tín nhiệm.
Một là, xếp hạng các công cụ nợ dài hạn, bao gồm việc xếp hạng tổ
chức phát hành nợ dài hạn và xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn.
Xếp hạng tổ chức phát hành nợ liên quan tới việc đưa ra đánh giá
chung về năng lực của tổ chức phát hành nợ, của tổ chức bảo lãnh hoặc
cung cấp các hỗ trợ tín dụng nhằm đáp ứng các cam kết tài chính liên
quan đến các nhà phát hành nợ hoạt động trên thị trường tài chính Việt
Nam. Còn xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn là việc đánh giá khả năng
của công ty hoàn trả vốn gốc và lãi vay.
Hai là, xếp hạng tiền gửi và khả năng tài chính của các ngân hàng thương mại quốc doanh và thương mại cổ phần Việt Nam.
Điều này liên quan tới khả năng của một ngân hàng có thể đáp ứng
đúng hạn các nghĩa vụ nợ của mình đối với các tổ chức hoặc cá nhân gửi
tiền trong và ngoài nước. Còn xếp hạng khả năng tài chính của ngân hàng
liên quan tới đặc tính an toàn và chất lượng hoạt động của một ngân
hàng, thường tính tới các yếu tố như các chỉ số tài chính cơ bản, giá
trị mạng lưới hoạt động, sự đa dạng hóa tài sản đầu tư, và cả các yếu
tố liên quan tới môi trường hoạt động của ngân hàng, triển vọng của nền
kinh tế v.v...
Ba là, xếp hạng các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn đã và đang
tiến hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Việc tiến hành định mức tín nhiệm đối với các đối
tượng này cần được coi là một điều kiện bắt buộc nhằm bảo vệ công chúng
đầu tư nói chung, vì đại bộ phận trong số họ còn chưa có đầy đủ kiến
thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán.
Bốn là, xếp hạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam.
Hiện SMEs chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp Việt Nam và được coi là
khu vực có nhiều tiềm năng phát triển xen lẫn rủi ro cao.
Một trong những vấn đề nghiêm trọng cản trở việc vay vốn ngân hàng
cho đầu tư phát triển của khu vực SMEs chính là sự thiếu minh bạch
thông tin và thiếu những nguồn cung cấp tin đáng tin cậy về tình hình
tài chính của các SMEs.
Chính vì vậy, việc xếp hạng các SMEs được coi là một bước đi quan
trọng, vì nó giúp đem lại những lợi ích cho chính các SMEs cũng như cho
các tổ chức cho vay và cho sự phát triển nói chung của kinh tế Việt
Nam."
Cần đánh giá đúng vai trò của vốn FII
(Bà Nguyễn Thị Mùi, Viện trưởng Viện khoa học tài chính, Bộ Tài chính)
"Ở Việt Nam, nhu cầu về vốn đầu tư từ nay đến năm 2010 là rất lớn,
khoảng 140 tỷ USD, trong đó 35% là vốn nước ngoài, theo các kênh sau:
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA)
và kiều hối.
Kể từ năm 2002 đến nay, dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã
được cải thiện, số lượng và qui mô hoạt động của các quĩ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam đã tăng đáng kể. Tính đến tháng 6/2006, có 19 quĩ
đầu tư nước ngoài với tổng số vốn khoảng 1,9 tỷ USD hoạt động tại Việt
Nam.
Một số chuyên gia trong và ngoài nước đã nhận định, “làn sóng vốn
đầu tư gián tiếp nước ngoài thứ ba” đã xuất hiện với qui mô và chất
lượng hơn hẳn hai làn sóng trước. Biểu hiện rõ nét là sự tham gia tích
cực của các nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần
hoá có quy mô lớn, của các ngân hàng nước ngoài vào các ngân hàng
thương mại cổ phần trong nước, mua trái phiếu Chính phủ và trái phiếu
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, so với vốn đầu tư trực tiếp thì vốn đầu tư gián tiếp nước
ngoài vào Việt Nam vẫn ở mức thấp, khoảng 2-3%, trong khi tỷ lệ này ở
một số nước trong khu vực là 30-40%. Trong thời gian qua, do thị trường
vốn Việt Nam chưa phát triển, đặc biệt là tác động tiêu cực của dòng
vốn này trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nên thu hút đầu tư
gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa được cơ quan hoạch định chính
sách, các nhà nghiên cứu đánh giá đúng vai trò và tiềm năng của nó.
Đến nay, Việt Nam đã bước đầu hội đủ những điều kiện thuận lợi để
đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, đây là vấn
đề khá mới cả về lý luận và thực tiễn.
Vì vậy, để góp phần tháo gỡ rào cản và hoạch định chính sách thu hút
và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài một cách có hiệu quả, trước
hết chúng ta cần đánh giá rõ hơn về tầm quan trọng đối với phát triển
nền kinh tế Việt Nam; lợi thế và bất lợi của dòng vốn này.
Thứ hai, trên cơ sở đánh giá tiềm năng, dự báo xu hướng và xác định
rõ mục tiêu, định hướng thu hút vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đến
năm 2010, cần đề xuất các chính sách và biện pháp nhằm thu hút và quản
lý vốn đầu tư gián tiếp sao cho phù hợp với đặc điểm của vốn đầu tư
gián tiếp và đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Và thứ ba, chúng ta cần
quảng bá và tạo sự hấp dẫn đối với hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt
Nam."
Thực thi chính sách mở cửa thu hút vốn
(Ông Trương Hùng Long, Phó vụ trưởng Vụ Tài chính ngân hàng, Bộ Tài chính)
"Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đặt ra mục tiêu
tổng sản phẩm quốc nội năm 2010 tăng gấp đôi so với năm 2000, giai đoạn
2006-2010 còn phải đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7,5% - 8% năm và
phấn đấu đạt trên 8%/năm. Tỷ lệ huy động vốn cho đầu tư là 40% GDP. Tỷ
lệ huy động vốn trong nước là 65 - 67%, nước ngoài là 33 - 35%.
Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần ổn định và cải thiện môi
trường kinh tế vĩ mô; thực thi chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu
tư gián tiếp nước ngoài.
Cụ thể là, mở rộng tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh
nghiệp Việt Nam trên nguyên tắc đảm bảo mặt bằng chung về tỷ lệ tham
gia giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; thu hẹp đối tượng ngành
nghề Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn hoặc nắm giữ cổ phần chi phối.
Phát triển các công ty quản lý quỹ, khuyến khích thành lập các công
ty liên doanh quản lý quỹ, lập văn phòng đại diện và cho phép lập chi
nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam. Khuyến khích lập các
quỹ đầu tư nước ngoài để huy động vốn đầu tư vào thị trường Việt Nam.
Đa dạng hoá các loại hình quỹ đầu tư như quỹ đóng, quỹ mở, quỹ dạng hợp
đồng, quỹ đầu tư là pháp nhân...
Thiết lập các chính sách bình đẳng về ưu đãi đầu tư, chính sách
thuế, phí, lệ phí giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính phủ
tiếp tục thực hiện bảo hộ tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam dưới mọi hình thức.
Tiếp tục thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vãng lai để tạo
điều kiện thu hút nguồn từ nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc chuyển các nguồn thu nhập hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài
ra nước ngoài. Ở đây hệ thống ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng
trong việc kiểm soát các giao dịch của tài khoản vốn.
Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường an ninh của hệ thống tài chính,
thực hiện kiểm soát các dòng vốn khi cần thiết. Tăng cường phối hợp
giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá và chính sách thu hút vốn
đầu tư gián tiếp nước ngoài; đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan ngân hàng - tài chính - chứng khoán trong việc quản lý các dòng
vốn nhằm đảm bảo sự an toàn, vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài
chính.
Vì dòng vốn đầu tư gián tiếp di chuyển giữa các quốc gia, các khu
vực và mang tính toàn cầu nên sự hợp tác, phối hợp trên không chỉ giới
hạn trong nước mà phải mang tính quốc tế liên quốc gia, liên thị trường
thì mới có hiệu quả.
Đây cũng là một trong hai chủ đề chính của Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 13 vừa kết thúc tại Hà Nội."
Theo VNECONOMY
|