Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Tin tức
Hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tài chính-kế toán
Linh hoạt sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế
E7 sẽ thay thế G7 vào năm 2020
Doanh nghiệp đối mặt 6 yếu tố làm tăng chi phí
Doanh nghiệp niêm yết phải công khai và cập nhật kịp thời báo cáo tài chính
FAST ra mắt sản phẩm Fast Accounting for Construction 10.0
Ngân hàng không mặn mà với tín dụng cầm cố chứng khoán
Năm 2009 các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đạt 477 tỷ đồng thu nhập trước thuế
TIX sẽ hạch toán lợi nhuận đột biến trong quý 1/2010
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Những qui định mới về thuế GTGT tại Thông tư số 30/2008/TT-BTC ngày 16/04/2008
TCKT cập nhật: 02/06/2008

Những qui định mới về thuế GTGT tại Thông tư số 30/2008/TT-BTCngày 16/04/2008 Ngày 16/04/2008 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 30/2008/TT-BTC (Thông tư 30) sửa đổi, bổ sung Thông tư số 32/2007/TT-BTC (Thông tư 32) của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT. Thông tư này ra đời đã tháo gỡ được một số khó khăn phát sinh trong thực tế.

Thứ nhất: Về đối tượng không chịu thuế GTGT.

Tại các Thông tư hướng dẫn về thuế GTGT trước đây có quy định: hàng hoá, dịch vụ do các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Tại Thông tư 30, nội dung này được hướng dẫn rõ ràng hơn, đồng thời khái quát hoá thành quy định chung đối với khu phi thuế quan để đảm bảo bao quát đầy đủ các trường hợp.

Thứ hai: Hướng dẫn bổ sung hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong doanh nghiệp chế xuất không được hưởng thuế suất thuế GTGT 0%.

Thông tư 32 hướng dẫn dịch vụ sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong doanh nghiệp chế xuất không được áp dụng thuế suất 0% nhưng không hướng dẫn tiêu chí xác định dịch vụ sử dụng cho tiêu dùng cá nhân mà chỉ nêu một số ví dụ như dịch vụ đưa đón vận chuyển công nhân, cung cấp suất ăn cho công nhân của doanh nghiệp chế xuất …). Khắc phục những hạn chế đó, Thông tư 30 đã quy định rõ tiêu chí để xác định hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong doanh nghiệp chế xuất, đó là hàng hoá, dịch vụ do cá nhân tự bỏ tiền ra để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mình.

Thứ ba: Về hoá đơn, chứng từ đối với khoản tiền tài trợ.

Thông tư 32 quy định các cơ sở kinh doanh nhận tiền tài trợ để thực hiện các dịch vụ quảng cáo, tiếp thị, bảo hành, hỗ trợ cho việc kinh doanh bán sản phẩm thì phải lập hoá đơn GTGT, tính và nộp thuế GTGT trên tiền nhận tài trợ. Trường hợp nhận tiền tài trợ không liên quan đến việc bán sản phẩm thì cơ sở kinh doanh không phải lập hoá đơn GTGT, không phải kê khai, nộp thuế GTGT. Việc quy định như vậy rất khó thực hiện khi phải xác định khoản tiền nào có liên quan đến hoạt động kinh doanh, khoản tiền nào không, để sử dụng chứng từ phù hợp. Do đó, để đảm bảo đúng bản chất của khoản tiền tài trợ, Thông tư 30 thống nhất cách sử dụng chứng từ đối với khoản tiền tài trợ và phù hợp với chuẩn mực kế toán, cụ thể: “đối với cơ sở kinh doanh nhận tiền tài trợ của các cơ sở kinh doanh khác thì khi nhận tiền, cơ sở kinh doanh lập chứng từ thu và xác định là khoản thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền tài trợ, căn cứ mục đích tài trợ để lập chứng từ chi tiên”.

Thứ tư: Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao về việc nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi tài chính để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư làm nhà ở cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, Thông tư 30 đã cho phép khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định phục vụ người lao động của cơ sở kinh doanh.

Thứ năm: Bãi bỏ quy định về tính thuế GTGT đầu ra đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo.

Thứ sáu: Để đáp ứng yêu cầu đơn giản hoá thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho doanh nghiệp, Thông tư 30 đã bãi bỏ quy định có tờ khai hải quan đối với cơ sở kinh doanh cung cấp hàng hoá là văn phòng phẩm, hàng hoá phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của doanh nghiệp chế xuất./.

(Theo Tạp chí Thuế)

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
Kế toán
Tăng cường phân tích báo cáo tài chinh khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam: Hoàn thiện các điều kiện chuyển giao quản lý hành nghề kế toán
VỀ MỘT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN
Nghề kế toán, kiểm toán trong kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
Kiểm toán
Kiểm toán điều tra Một biện pháp quan trọng để phát hiện và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Kiểm toán viên Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển thực trạng và giải pháp
Bàn về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Nhà nước.
Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán trong điều kiện hội nhập
Kiểm toán – kiểm toán với sự minh bạch thông tin tài chính trên thị trường
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất.
Tài chính ở Mỹ và đề xuất mô hình thanh tra – giám sát đồng bộ thị trường tài chính Việt Nam
Đánh giá việc lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Thuế - phí
Mở rộng đối tượng được xoá nợ thuế
Cần biết về quyết toán thuế thu nhập cá nhân