|
Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh cao, khoản chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi không những là khoản chi phí không thể thiếu mà còn chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng số chi phí tại DN.
Đây là khoản chi có tính chất ảnh hưởng lâu dài và tác động tới hình ảnh của DN trên thị trường. Vì vậy cần nhận thức đúng đắn việc sử dụng, quản lý khoản chi này ở tại DN và cả quy định trong chính sách thuế liên quan.
Khoản 11, Mục III, Phần B, TT 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ TC hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập DN (TNDN) nêu khoản chi phí hợp lý, hợp lệ tính thuế TNDN: "Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, tiếp tân, khánh tiết, chi phí giao dịch, đối ngoại, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị và các loại chi phí khác theo số thực chi nhưng tối đa không quá 10% tổng số các khoản chi phí hợp lý...".
Như vậy, theo quy định của pháp luật thuế thì trong cơ cấu chi phí hợp lý, hợp lệ để tính thuế TNDN, khoản chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại... khống chế tối đa bằng 1/9 tổng số chi phí trong kỳ của DN. Việc khống chế này có thể hiểu theo logic nhận thức là tiêu thụ phải "tương quan" tỷ lệ thuận với sản xuất. Trên thực tế trong nền kinh tế mở, khoản chi phí này luôn biến động và thường vượt mức khống chế.
Liên quan đến khoản chi phí quảng cáo, khuyến mãi, Tổng cục Thuế mới đây có CV số 1766/TCT- ĐTNN ngày 19/5/2006 hướng dẫn. Theo đó, khoản chi phí quảng cáo, khuyến mãi... được mở rộng hơn trong tính thu nhập chịu thuế, tạo thuận lợi cho "nâng cao hình ảnh của DN". Tuy nhiên, còn có những điểm chưa rõ trong hướng dẫn:
Thứ nhất, những khoản chi phí (theo CV 1766 /TCT- ĐTNN) gồm: Chi phí nghiên cứu thị trường: thăm dò, khảo sát, phỏng vấn ...; Chi phí mua hoặc sản xuất hàng hoá, dịch vụ cho, tặng kèm theo sản phẩm bán ra; Chi phí chiết khấu thanh toán nhanh, kể cả chi bằng tiền cho đại lý và người mua hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn... được tính toàn bộ vào chi phí hợp lý khi xác định thuế TNDN (không chịu khống chế tỷ lệ). Sau đó cộng với các khoản khác rồi tính tổng chịu khống chế 10% như quy định của TT 128/2003/TT-BTC.
Thứ hai, riêng những khoản chi phí như đã nêu trên được tính toàn bộ vào chi phí và không bị khống chế khi tính thu nhập chịu thuế trong kỳ. Các khoản chi phí khác thuộc khoản mục chi phí 11 nêu tại Mục III, Phần B, TT 128/2003/TT-BTC vẫn bị khống chế và tính bằng 10% tổng các khoản chi phí còn lại.
Thứ ba, việc áp dụng quy định "ngoại lệ" như hướng dẫn tại CV 1766/TCT- ĐTNN của Tổng cục Thuế chỉ áp dụng cho quyết toán thuế của năm tài chính 2005 hay cho cả các năm sau đó? Có thể hiểu, nếu còn được áp dụng thì cơ quan chức năng sẽ có văn bản hướng dẫn tiếp theo, nhưng rõ ràng việc đưa ra qui định này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý cũng như quyết định tài chính của DN khi chi cho quảng cáo, tiếp thị... theo hướng tăng hơn (với những khoản không bị khống chế) cho dù chưa biết các năm sau sẽ tính chi phí khi xác định thuế TNDN như thế nào? Trong trường hợp như vậy theo chúng tôi nên quy định rõ ràng hơn thời gian được áp dụng chính sách thuế "mở" đối với khoản chi phí này như đã nêu. Như vậy tạo ra sự thống nhất và minh bạch hơn về một chính sách tài chính, nhất là nó lại ảnh hưởng nhiều đến hoạt động và hình ảnh của DN như đã đề cập.
|