Trong hai năm gần đây, việc cho phép tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài cùng với những thay đổi hợp lý trong chính sách thuế đã
góp phần đẩy nhanh tiến trình mua bán, sáp nhập công ty cả về mặt số
lượng và chất lượng tại Việt Nam. Song song đó, khái niệm lợi thế
thương mại ("good will") ngày càng được đề cập thường xuyên như một
phần tất yếu của báo cáo tài chính hợp nhất. Tuy nhiên, trong luật thuế
Việt Nam, vấn đề này còn khá mới, chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể,
tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến sự lúng túng trong vận dụng và
tuân thủ luật thuế.
Bài viết này đề cập về lợi thế thương mại hình thành trên cơ sở hợp
nhất kinh doanh, hay nói cách khác là việc kết hợp các doanh nghiệp
riêng biệt hoặc các hoạt động kinh doanh riêng biệt thành một đơn vị
báo cáo.
Câu hỏi đầu tiên cần được đặt ra, lợi thế thương mại là gì và nó được ghi nhận về mặt kế toán như thế nào?
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 ("VAS 11"), lợi thế thương mại
phát sinh khi việc hợp nhất kinh doanh thể hiện khoản thanh toán của
bên mua cho những lợi ích kinh tế ước tính thu được trong tương lai từ
những tài sản không đủ tiêu chuẩn ghi nhận và không xác định được một
cách riêng biệt.
Chuẩn mực kế toán số 11 cũng nêu rõ thêm, lợi thế
thương mại là phần chênh lệch của giá phí hợp nhất so với phần sở hữu
của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của tài sản, nợ phải trả có thể
xác định được và các khoản nợ tiềm tàng đã ghi nhận theo quy định.
Lợi thế thương mại được ghi ngay vào chi phí sản xuất - kinh doanh (nếu
giá trị nhỏ), hoặc phải được phân bổ dần một cách có hệ thống trong
suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính (nếu giá trị lớn). Thời gian sử
dụng hữu ích phải phản ánh được ước tính đúng đắn về thời gian thu hồi
lợi ích kinh tế có thể mang lại cho doanh nghiệp (tối đa không quá 10
năm).
Báo cáo tài chính quốc tế số 3 (IFRS 3) định nghĩa
về lợi thế thương mại tương tự như VAS 11. Tuy nhiên, theo chuẩn mực
này, lợi thế thương mại phát sinh khi hợp nhất kinh doanh sẽ không phân
bổ dần vào chi phí. Thay vào đó, doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá
lại lợi thế thương mại của mình hàng năm, hoặc ngay khi có sự giảm sút
về mặt giá trị hợp lý, phần giảm giá trị này sẽ được ghi nhận vào chi
phí của doanh nghiệp.
Như vậy, nhìn chung về mặt kế toán, cho dù áp dụng
chuẩn mực kế toán Việt Nam hay chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, lợi
thế thương mại cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp, dưới hình
thức phân bổ dần vào chi phí hay ghi nhận ngay phần giảm sút về mặt giá
trị hợp lý của lợi thế thương mại như là một khoản chi phí.
Sự tác động trực tiếp đến thu nhập trước thuế nêu trên đã đặt ra
câu hỏi thứ hai là lợi thế thương mại có thể được coi là chi phí hợp
lý, hợp lệ cho mục đích tính thuế thu nhập ở Việt Nam?
Ở một số nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, Úc, NewZealand…, khái niệm
hợp nhất báo cáo thuế được sử dụng một cách rộng rãi. Hợp nhất báo cáo
thuế là một hình thức quản lý, thu thuế, trong đó một nhóm doanh nghiệp
riêng biệt được xem như là một đơn vị báo cáo thuế. Hay nói cách khác,
đơn vị nắm quyền kiểm soát cao nhất của nhóm doanh nghiệp này sẽ chịu
trách nhiệm tất cả hay hầu hết nghĩa vụ thuế của nhóm, ví dụ như kê
khai một tờ khai thuế, nộp thuế... Việc áp dụng mô hình này một phần
nhằm làm giảm chi phí quản lý cho cơ quan thuế cũng như đối tượng nộp
thuế và đem lại một số lợi ích khác cho đối tượng nộp thuế, ví dụ như
lỗ và lợi nhuận của các doanh nghiệp trong nhóm có thể được cấn trừ qua
lại, việc chuyển giao tài sản cố định giữa các công ty trong nhóm sẽ
không phải chịu bất cứ loại thuế nào… Trên cơ sở này, báo cáo tài chính
hợp nhất được sử dụng như là một công cụ đắc lực để hỗ trợ trong vấn đề
kê khai thuế. Do đó, lợi thế thương mại là một trong số các yếu tố được
xem là có ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, khái niệm về hợp nhất báo cáo thuế còn
khá mới mẻ ở Việt Nam và hầu như chưa có những quy định cụ thể liên
quan đến vấn đề này. Theo nhận xét của một số chuyên gia trong lĩnh vực
thuế, cơ quan thuế Việt Nam quản lý thuế theo từng đơn vị kế toán riêng
biệt (ví dụ, mỗi đơn vị hạch toán kế toán độc lập được cấp một mã số
thuế riêng, nộp tờ khai thuế riêng...) và có thể nói, báo cáo tài chính
hợp nhất chưa được sử dụng để làm cơ sở cho việc kê khai tính thuế.
Thêm vào đó, theo VAS 11 và IFRS 3, lợi thế thương mại được hình thành
trên cơ sở hợp nhất kinh doanh chỉ được ghi nhận trong báo cáo tài
chính hợp nhất. Do đó, việc kê khai tính thuế trên cơ sở báo cáo tài
chính của từng đơn vị riêng lẻ có thể xem như là không chịu ảnh hưởng
bởi lợi thế thương mại. Và theo đó, lợi thế thương mại được khấu trừ
hay không được khấu trừ cho mục đích tính thuế sẽ không còn là vấn đề
băn khoăn cho các doanh nghiệp trong việc tuân thủ luật thuế.
 |
|
Nguyễn Thị Thúy hiện
là chuyên viên làm việc tại bộ phận Dịch vụ tư vấn giao dịch tài chính
của Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam, chuyên cung cấp dịch vụ tư
vấn về các giao dịch mua bán, sáp nhập công ty. Thúy có hơn 4 năm kinh
nghiệm trong lĩnh vực tư vấn thuế. Chị đang theo học chương trình thạc
sĩ về tài chính và chương trình đào tạo kiểm toán viên quốc tế ACCA.
|
Mặc dù vậy, theo Điểm 2.11, Mục III, Phần B, Thông tư 134/2007/TT-BTC
hướng dẫn chi tiết Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp có nêu: "Trường hợp
chi phí để có các tài sản không thuộc tài sản cố định: chi về mua và sử
dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công
nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh... được phân bổ dần vào
chi phí kinh doanh nhưng tối đa không quá 3 năm". Cho dù lợi thế thương
mại không được nêu rõ trong điều khoản nói trên, nhưng cũng có thể được
hiểu là có tính chất tương tự. Do đó, đã có một số quan điểm cho rằng,
lợi thế thương mại được hình thành trên cơ sở hợp nhất báo cáo tài
chính sẽ được khấu trừ cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Và
đã có không ít doanh nghiệp tự hỏi, có hay không lợi thế thương mại sẽ
được phép ghi nhận khi tính thuế của từng doanh nghiệp riêng lẻ ở Việt
Nam? (ví dụ như doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát).
Theo một khảo sát dưới hình thức câu hỏi trắc nghiệm ("lợi thế thương
mại có được khấu trừ cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp ở
Việt Nam hay không?"), với đối tượng là kế toán viên và nhân viên phân
tích làm trong các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư, đã có hơn 60%
chọn câu trả lời là "không biết". Điều này cho thấy sự lúng túng trong
cách hiểu, cách xử lý vấn đề này của không ít doanh nghiệp và sự cần
thiết có một hướng dẫn cụ thể về lợi thế thương mại.
Việc Việt Nam gia nhập WTO và trở thành thành viên
không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, một lần nữa khẳng
định vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế và chính trị thế giới. Để
vị thế này ngày càng vững mạnh, thiết nghĩ khái niệm hợp nhất báo cáo
thuế sẽ sớm được bổ sung vào hệ thống luật thuế Việt Nam và sẽ sớm có
những quy định chi tiết và cụ thể về lợi thế thương mại.
Trong bài viết này, xin không đưa ra kết luận trong vấn đề được khấu
trừ hay không được khấu trừ lợi thế thương mại. Từ những trao đổi vừa
nêu, hy vọng bạn đọc sẽ có câu trả lời riêng và mỗi doanh nghiệp sẽ tìm
ra cho mình một cách xử lý riêng để tuân thủ pháp luật thuế Việt Nam.
(Theo ĐTCK online)
|