Kết quả hoạt động từ một số ngân hàng cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phần lớn đều cao hơn 1% là dấu hiệu tốt.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng quá nóng, cùng những khiếm khuyết cố hữu đòi
hỏi cần cấp tập cải tiến, chấn chỉnh, để ngành ngân hàng phát triển bền
vững
Kết quả hoạt động từ một số ngân hàng cho thấy tỷ lệ
lợi nhuận trên tổng tài sản phần lớn đều cao hơn 1%, có ngân hàng lên
đến 5,19% là dấu hiệu tốt. Số khác có tỷ lệ này thấp hơn 1% (chỉ có
0,76 – 0,79%) cũng không hẳn là quá xấu.
Đối với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), theo
số liệu thu thập được thì mức thấp nhất là 7,03% và mức cao nhất là
66,91%, trong đó có 4 ngân hàng có tỷ lệ này dưới 10%, nhiều ngân hàng
nằm trong khoảng từ 13% đến 25% (một tỷ lệ có thể chấp nhận được và nếu
trên 15% thì tốt).
Về khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, các ngân hàng có số liệu đều không có gì đáng lo ngại lắm vì gần như đạt tỷ lệ 1:1.
Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần
cũng đã giảm từ 1,08% xuống còn 0,72% là một dấu hiệu tốt và nếu tính
toàn hệ thống thì tỷ lệ này cũng giảm từ 1,76% xuống 0,85%.
Tỷ lệ vốn điều lệ trên tổng tài sản có phần thấp
trong cả hai năm 2006 (4,72%) và 2007 (4,26%) chứng tỏ là vốn cần phải
tăng lên hay ngân hàng đã cho vay quá cao – thực tế là nguồn tín dụng
trong năm 2007 đã tăng vọt.
Dấu hỏi hiệu quả
Hầu hết những con số đo lường hiệu quả hoạt động
kinh doanh năm 2007 của các NHTM đều vượt trội so với những năm trước
đó. Thoạt nhìn, đó là những con số khá ấn tượng và đẹp trên báo cáo
chính thức. Nhưng có một thực tế rất khó chịu là có những giai đoạn và
thời điểm mà phía sau những con số vượt trội trên báo cáo tài chính…
còn có những điều và ẩn số khác mà những nhà phân tích khó tính chưa
hoặc không đồng ý.
Thử tạm sử dụng bố con số và một cụm những con số
của những con số trong các bản báo cáo của ngân hàng của năm 2006 và
2007 và những phân tích hiệu quả tổng hợp về (1) vốn chủ sở hữu, (2)
tổng nguồn vốn, (3) tỷ suất lời sau thuế/tổng tài sản, (4) tỷ suất lời
sau thuế/vốn chủ sở hữu và (5) gom tất cả những khoản đầu tư và kinh
doanh chứng khoán.
Cặp số thứ nhất là vốn chủ sở hữu và tổng nguồn vốn,
cặp số thứ nhì là tỷ suất lời sau thuế/tổng tài sản và tỷ suất lời sau
thuế/vốn chủ sở hữu. Đối chiếu hai cặp số này sẽ thấy xen lẫn hai yếu
tố kém (bất) khả dụng và kém (bất) khả thi trong kế hoạch sử dụng vốn.
Vốn chủ sở hữu tăng từ 100% đến 300% thậm chí có ngân hàng lên đến 400%
hoặc cao hơn nếu tính nguồn vốn thặng dư (theo cách Việt Nam) từ phát
hành thêm cổ phần. Nguyên tắc tăng vốn là kế hoạch tăng vốn phải sát
sao với kế hoạch kinh doanh và khả năng kinh doanh cùng với những
khoảng cách thời gian hợp lý kinh doanh nguồn vốn mới đó. Thế nhưng
phần lớn các ngân hàng đã không tuân thủ nguyên tắc này. Toàn hệ thống
cùng tăng vốn trong suốt năm 2007 và quý 1/2008 với hệ số tăng lớn và
nhanh như vậy không thể nào ngân hàng hoặc hệ thống ngân hàng có thể
tận dụng và phân bổ các nguồn vốn có hiệu quả cao được.
Việc kém khả dụng và kém khả thi về kế hoạch sử dụng
nguồn vốn mới, hẳn nhiên sẽ thể hiện qua hai tỷ suất tài chính ROE và
ROA. Ngoại trừ ACB có ROE là 66,91% và chỉ có 3 ngân hàng ROE trên 20%
còn hầu hết đều dưới 15%. Như vậy, nhận ra ngay hiệu suất ROE năm 2007
bị “tính chưa sát thực”.
Tỷ suất ROA với những số cách biệt từ dưới 1% và
trên 3% so với ROE và tổng nguồn vốn có thể suy ra có những con số chưa
thật trong kinh doanh – nhất là các khoản đầu tư hoặc cho vay liên quan
đến chứng khoán, càng chứng tỏ kế hoạch và kỹ năng phân bổ nguồn vốn
kém và làm hao hụt sức tạo lời của nguồn vốn mới.
Không biết được danh mục đầu tư và kinh doanh chứng
khoán của các ngân hàng nhưng không quá rắc rối để suy tính ra những
con số không đẹp và không còn đẹp như trong các bản báo cáo 2007.
Tăng trưởng nóng đe doạ sự bền vững
Để ngân hàng bền vững thì yếu tố trước tiên phải có là những ngân hàng
gia. Hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thiếu rất nhiều những con người
ngân hàng. Tóm lại, nguồn nhân lực ngân hàng đang thiếu. Như vậy, tính
bền vững của hệ thống còn nhiều vấn đề để giải quyết và xây dựng.
Chỉ trong năm 2007 hệ thống ngân hàng tại TP.HCM đã
tăng vốn điều lệ với một lượng vốn mới 21.991 tỉ đồng tương đương 1,3
tỉ USD. Như vậy, đã hút vào hệ thống một lượng vốn lớn nhiều lần hơn (5
– 6 lần) được gọi là vốn thặng dư. Cũng trong năm 2007, riêng mạng lưới
hệ thống ngân hàng tại TP.HCM đã mở rộng hệ thống giao dịch rất mạnh.
Sự bành trướng mạnh mẽ như vậy là khó đạt tính bền vững.
Yêu cầu cải tiến
Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn là nguồn huy động vốn
lớn nhất trong tài sản ngân hàng. Loại tài khoản này lại tập trung gần
như toàn thể doanh số vào loại tài khoản tiết kiệm định kỳ. Để thu hút
người tiêu dùng, các ngân hàng cần đa dạng hoá loại tài khoản này bằng
sự tiện dụng. Ví dụ như các hình thức chứng chỉ tiền gửi tạm gọi là tín
phiếu ngân hàng hoặc tín phiếu tiết kiệm với đặc tính cơ bản là có thể
chuyển nhượng.
Đối với loại tài khoản cá nhân không kỳ hạn (tiết
kiệm, thanh toán), để thu hút người tiêu dùng cá nhân bằng sự thuận
tiện và sự hỗ trợ tín dụng, cần tạo thêm các loại hình tài khoản cá
nhân, ví dụ như loại tài khoản vãng lai có kết số dư nợ. Theo đó, ngân
hàng thuận cấp cho doanh nhân một hạn mức tín dụng trong một thời gian
thoả thuận được sử dụng qua tài khoản vãng lai. Tài khoản này có thể có
kết số dư nợ hoặc dư có và tăng giảm tuỳ theo nhu cầu kinh doanh của
chủ tài khoản miễn là trong hạn mức và trong thời gian thoả thuận.
Trong khâu thanh toán đối ngoại thông qua chuyển tiền trực tiếp hay thư
tín dụng (L/C), ngân hàng cần tư vấn cho người tiêu dùng để đảm bảo
thanh toán. Hiện nay đã có thị trường mua bán ngoại tệ giao ngay hay
trong tương lai. Nếu người tiêu dùng mua hàng trả chậm thì dứt khoát
phải khuyên nên có hình thức bảo lãnh bằng cách mua trước ngoại tệ hay
quyền chọn mua vào một thời điểm nào đó để biết trước số tiền cần phải
chi trả và hạch toán lời lỗ thích ứng.
Đối với các dịch vụ tài trợ, tiêu chí quan trọng
nhất cần thẩm định là quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm
gần nhất và lợi nhuận hàng năm. Tất nhiên là việc thẩm định phải đặt
trong môi trường kinh doanh chung. Với các thủ tục khá rắc rối hiện nay
trong việc tiếp nhận hay bán bất động sản, ngân hàng không nên đặt nặng
tài sản thế chấp mà cần thẩm định tương đối thận trọng kế hoạch kinh
doanh và chủ yếu dựa vào tính khả thi của kế hoạch để quyết định cho
vay.
Lĩnh vực tài trợ nội địa bao gồm những nhóm chính
như: tín dụng tiêu dùng, tín dụng liên quan đến nhà ở, tín dụng thương
mại, tín dụng sản suất… vẫn còn yếu. Cả 4 nhóm tín dụng nêu trên có
nhiều mối liên hệ gián tiếp và trực tiếp với nhau ở nhiều giai đoạn và
nhiều tầng lớp chứ không rời rạc như nhiều ngân hàng đang hoạt động
kinh doanh không có mối liên kết đó. Chính vì vậy có nhiều ngân hàng
triển khai nhóm tín dụng này nhưng với tiêu chuẩn của nhóm tín dụng
khác… Các ngân hàng nên nhìn lại và sắp xếp lại hệ thống tín dụng của
mình chuẩn mực.
Dịch vụ tư vấn tài chính của toàn hệ thống ngân hàng
vẫn chưa phát triển và bị bỏ trống một cách đáng ngạc nhiên. Đặc biệt
nhóm những ngân hàng có khả năng hướng dẫn thị trường nên nhanh chóng
thành lập mới hoặc cải tổ lại những bộ phận đang có để phát triển mảng
dịch vụ tư vấn này.
Và yêu cầu chấn chỉnh
Riêng đối với bản thân NHTM, cần nhanh chóng tiến
hành triển khai công tác hậu kiểm trên mọi bình diện: sự chính xác của
hạch toán kế toán và nội dung chứng từ, thẩm định lại các hồ sơ tín
dụng và giá trị tài sản bảo đảm, giá phí và chi phí trong hiệu quả kinh
doanh.
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đặt ra yêu cầu phải hoàn
thiện cũng như xây dựng mới các văn bản pháp luật trong nước.
Môi trường pháp luật của ngành ngân hàng Việt Nam
hiện nay, còn nhiều sản phẩm – công cụ – tập quán còn khá xa lạ hoặc
thấp kém so với trình độ trung bình của cộng đồng WTO.
Đề án xây dựng các luật mới về ngân hàng đã tiến hành từ hơn hai năm nay cần được khẩn trương hoàn chỉnh theo hướng:
- Thông qua một luật NHNN mới, trong đó NHNN cần
phải thực sự là một ngân hàng trung ương với đầy đủ các chức năng,
nhiệm vụ có tính khoa học và thực tiễn của nó.
- NHNN triển khai thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn vận hành một cách hữu
hiệu để các công cụ chiết khấu, tái chiết khấu, thương phiếu và giấy tờ
có giá phát huy tác dụng điều tiết lãi suất ngân hàng, thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia. NHNN cần giảm thiểu dùng những biện pháp mang
tính chất hành chánh như áp đặt mua tín phiếu bắt buộc, quy định trần
lãi suất cho vay...
- Hiện nay các quy định pháp luật về thương phiếu chưa đầy đủ, không
phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn nền kinh tế nên chưa đi vào
cuộc sống. Việc soạn thảo và ban hành một luật hoàn chỉnh và khả thi về
thương phiếu là một công tác cấp bách.
- Mặc dù séc (hay chi phiếu) đã được đưa vào sử dụng
từ nhiều năm nay, nhưng sau nhiều chỉnh sửa, bổ sung quy định, trên
thực tế đến nay vẫn chưa là công cụ thanh toán phổ biến trong hoạt động
thương mại và trong dân sự. Nền kinh tế tiền mặt vẫn là căn bệnh mãn
tính. Cần xây dựng mới một văn bản pháp lý về séc.
- Trong trường hợp còn kiểm soát ngoại hối như ở
nước ta, NHNN phải là chỗ dựa của các NHTM về nguồn cung ngoại tệ cho
các nghiệp vụ nhập khẩu hợp lệ. Về mặt này, NHNN nên thông báo rõ ràng
để các NHTM an tâm thực hiện các nghiệp vụ liên quan.
K.V tổng hợp (Sài gòn tiếp thị)
|