Trang chủ
Kế toán
Kế toán quốc tế
Kiểm toán
Ngân hàng - Tài chính
Thuế - Phí - Lệ Phí
Tin tức
Ứng dụng tin học
Việc Làm
Gương mặt doanh nhân
Văn bản pháp luật
Chỉ số VN-Index Kiến thức chứng khoán
Bảng giá cổ phiếu Lịch trả cổ tức
Văn bản mới nhất
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG BAN HÀNH THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 1096/2004/QĐ-NHNN NGÀY 06/9/2004 CỦA THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC.
Quyết định 30/2008/QĐ-NHNNBan hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê về lĩnh vực thương mại điện tử
Quyết định 37/2008/QĐ-BCTVề việc điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số nhóm mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.
Quyết định 83/2008/QĐ-BTCNội dung nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai phiên bản 1.3.1
Nội dung nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai phiên bản 1.3.1Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân
Thông tư 84/2008/TT-BTC
Tin tức
Chứng khoán Âu, Á lo ngại thời kỳ khủng hoảng mớiChứng khoán Âu, Á lo ngại thời kỳ khủng hoảng mới
Quốc hội thông qua 3 dự án luậtQuốc hội thông qua 3 dự án luật
Hastc hợp tác với Sở GDCK Hàn QuốcHastc hợp tác với Sở GDCK Hàn Quốc
Hội nghị thượng đỉnh G-20: Cơ hội ra đời một thể chế tài chính mớiHội nghị thượng đỉnh G-20: Cơ hội ra đời một thể chế tài chính mới
WB: Kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 1% trong năm 2009WB: Kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 1% trong năm 2009
Giá USD sẽ tăng hay Giá USD sẽ tăng hay "nằm im"?
CTCK lao đao: Bần cùng... sinh trì hoãnCTCK lao đao: Bần cùng... sinh trì hoãn
Sẽ có thêm những đợt cắt giảm lãi suất mới trên toàn cầu trong tháng 12Sẽ có thêm những đợt cắt giảm lãi suất mới trên toàn cầu trong tháng 12
TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng  TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng
Lo ngại suy thoái kinh tế “nhấn chìm” TTCK châu ÁLo ngại suy thoái kinh tế “nhấn chìm” TTCK châu Á
Trang chủWeb MailGóp ýSơ đồ websiteRSS
In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
Ngân hàng thương mại dưới góc nhìn người tiêu dùng: Tính hiệu quả, bền vững và yêu cầu cải tiến, chấn chỉnh hoạt động
TCKT cập nhật: 11/07/2008
nganhang.jpgKết quả hoạt động từ một số ngân hàng cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phần lớn đều cao hơn 1% là dấu hiệu tốt.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng quá nóng, cùng những khiếm khuyết cố hữu đòi hỏi cần cấp tập cải tiến, chấn chỉnh, để ngành ngân hàng phát triển bền vững

Kết quả hoạt động từ một số ngân hàng cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản  phần lớn đều cao hơn 1%, có ngân hàng lên đến 5,19% là dấu hiệu tốt. Số khác có tỷ lệ này thấp hơn 1% (chỉ có 0,76 – 0,79%) cũng không hẳn là quá xấu.

Đối với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), theo số liệu thu thập được thì mức thấp nhất là 7,03% và mức cao nhất là 66,91%, trong đó có 4 ngân hàng có tỷ lệ này dưới 10%, nhiều ngân hàng nằm trong khoảng từ 13% đến 25% (một tỷ lệ có thể chấp nhận được và nếu trên 15% thì tốt).

Về khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, các ngân hàng có số liệu đều không có gì đáng lo ngại lắm vì gần như đạt tỷ lệ 1:1.

Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần cũng đã giảm từ 1,08% xuống còn 0,72% là một dấu hiệu tốt và nếu tính toàn hệ thống thì tỷ lệ này cũng giảm từ 1,76% xuống 0,85%.

Tỷ lệ vốn điều lệ trên tổng tài sản có phần thấp trong cả hai năm 2006 (4,72%) và 2007 (4,26%) chứng tỏ là vốn cần phải tăng lên hay ngân hàng đã cho vay quá cao – thực tế là nguồn tín dụng trong năm 2007 đã tăng vọt.

Dấu hỏi hiệu quả

Hầu hết những con số đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh năm 2007 của các NHTM đều vượt trội so với những năm trước đó. Thoạt nhìn, đó là những con số khá ấn tượng và đẹp trên báo cáo chính thức. Nhưng có một thực tế rất khó chịu là có những giai đoạn và thời điểm mà phía sau những con số vượt trội trên báo cáo tài chính… còn có những điều và ẩn số khác mà những nhà phân tích khó tính chưa hoặc không đồng ý.

Thử tạm sử dụng bố con số và một cụm những con số của những con số trong các bản báo cáo của ngân hàng của năm 2006 và 2007 và những phân tích hiệu quả tổng hợp về (1) vốn chủ sở hữu, (2) tổng nguồn vốn, (3) tỷ suất lời sau thuế/tổng tài sản, (4) tỷ suất lời sau thuế/vốn chủ sở hữu và (5) gom tất cả những khoản đầu tư và kinh doanh chứng khoán.

Cặp số thứ nhất là vốn chủ sở hữu và tổng nguồn vốn, cặp số thứ nhì là tỷ suất lời sau thuế/tổng tài sản và tỷ suất lời sau thuế/vốn chủ sở hữu. Đối chiếu hai cặp số này sẽ thấy xen lẫn hai yếu tố kém (bất) khả dụng và kém (bất) khả thi trong kế hoạch sử dụng vốn. Vốn chủ sở hữu tăng từ 100% đến 300% thậm chí có ngân hàng lên đến 400% hoặc cao hơn nếu tính nguồn vốn thặng dư (theo cách Việt Nam) từ phát hành thêm cổ phần. Nguyên tắc tăng vốn là kế hoạch tăng vốn phải sát sao với kế hoạch kinh doanh và khả năng kinh doanh cùng với những khoảng cách thời gian hợp lý kinh doanh nguồn vốn mới đó. Thế nhưng phần lớn các ngân hàng đã không tuân thủ nguyên tắc này. Toàn hệ thống cùng tăng vốn trong suốt năm 2007 và quý 1/2008 với hệ số tăng lớn và nhanh như vậy không thể nào ngân hàng hoặc hệ thống ngân hàng có thể tận dụng và phân bổ các nguồn vốn có hiệu quả cao được.

Việc kém khả dụng và kém khả thi về kế hoạch sử dụng nguồn vốn mới, hẳn nhiên sẽ thể hiện qua hai tỷ suất tài chính ROE và ROA. Ngoại trừ ACB có ROE là 66,91% và chỉ có 3 ngân hàng ROE trên 20% còn hầu hết đều dưới 15%. Như vậy,  nhận ra ngay hiệu suất ROE năm 2007 bị “tính chưa sát thực”.

Tỷ suất ROA với những số cách biệt từ dưới 1% và trên 3% so với ROE và tổng nguồn vốn có thể suy ra có những con số chưa thật trong kinh doanh – nhất là các khoản đầu tư hoặc cho vay liên quan đến chứng khoán, càng chứng tỏ kế hoạch và kỹ năng phân bổ nguồn vốn kém và làm hao hụt sức tạo lời của nguồn vốn mới.

Không biết được danh mục đầu tư và kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng nhưng không quá rắc rối để suy tính ra những con số không đẹp và không còn đẹp như trong các bản báo cáo 2007.

Tăng trưởng nóng đe doạ sự bền vững

Để ngân hàng bền vững thì yếu tố trước tiên phải có là những ngân hàng gia. Hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thiếu rất nhiều những con người ngân hàng. Tóm lại, nguồn nhân lực ngân hàng đang thiếu. Như vậy, tính bền vững của hệ thống còn nhiều vấn đề để giải quyết và xây dựng.

Chỉ trong năm 2007 hệ thống ngân hàng tại TP.HCM đã tăng vốn điều lệ với một lượng vốn mới 21.991 tỉ đồng tương đương 1,3 tỉ USD. Như vậy, đã hút vào hệ thống một lượng vốn lớn nhiều lần hơn (5 – 6 lần) được gọi là vốn thặng dư. Cũng trong năm 2007, riêng mạng lưới hệ thống ngân hàng tại TP.HCM đã mở rộng hệ thống giao dịch rất mạnh. Sự bành trướng mạnh mẽ như vậy là khó đạt tính bền vững.

Yêu cầu cải tiến

Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn là nguồn huy động vốn lớn nhất trong tài sản ngân hàng. Loại tài khoản này lại tập trung gần như toàn thể doanh số vào loại tài khoản tiết kiệm định kỳ. Để thu hút người tiêu dùng, các ngân hàng cần đa dạng hoá loại tài khoản này bằng sự tiện dụng. Ví dụ như các hình thức chứng chỉ tiền gửi tạm gọi là tín phiếu ngân hàng hoặc tín phiếu tiết kiệm với đặc tính cơ bản là có thể chuyển nhượng.

Đối với loại tài khoản cá nhân không kỳ hạn (tiết kiệm, thanh toán), để thu hút người tiêu dùng cá nhân bằng sự thuận tiện và sự hỗ trợ tín dụng, cần tạo thêm các loại hình tài khoản cá nhân, ví dụ như loại tài khoản vãng lai có kết số dư nợ. Theo đó, ngân hàng thuận cấp cho doanh nhân một hạn mức tín dụng trong một thời gian thoả thuận được sử dụng qua tài khoản vãng lai. Tài khoản này có thể có kết số dư nợ hoặc dư có và tăng giảm tuỳ theo nhu cầu kinh doanh của chủ tài khoản miễn là trong hạn mức và trong thời gian thoả thuận.

Trong khâu thanh toán đối ngoại thông qua chuyển tiền trực tiếp hay thư tín dụng (L/C), ngân hàng cần tư vấn cho người tiêu dùng để đảm bảo thanh toán. Hiện nay đã có thị trường mua bán ngoại tệ giao ngay hay trong tương lai. Nếu người tiêu dùng mua hàng trả chậm thì dứt khoát phải khuyên nên có hình thức bảo lãnh bằng cách mua trước ngoại tệ hay quyền chọn mua vào một thời điểm nào đó để biết trước số tiền cần phải chi trả và hạch toán lời lỗ thích ứng.

Đối với các dịch vụ tài trợ, tiêu chí quan trọng nhất cần thẩm định là quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và lợi nhuận hàng năm. Tất nhiên là việc thẩm định phải đặt trong môi trường kinh doanh chung. Với các thủ tục khá rắc rối hiện nay trong việc tiếp nhận hay bán bất động sản, ngân hàng không nên đặt nặng tài sản thế chấp mà cần thẩm định tương đối thận trọng kế hoạch kinh doanh và chủ yếu dựa vào tính khả thi của kế hoạch để quyết định cho vay.

Lĩnh vực tài trợ nội địa bao gồm những nhóm chính như: tín dụng tiêu dùng, tín dụng liên quan đến nhà ở, tín dụng thương mại, tín dụng sản suất… vẫn còn yếu. Cả 4 nhóm tín dụng nêu trên có nhiều mối liên hệ gián tiếp và trực tiếp với nhau ở nhiều giai đoạn và nhiều tầng lớp chứ không rời rạc như nhiều ngân hàng đang hoạt động kinh doanh không có mối liên kết đó. Chính vì vậy có nhiều ngân hàng triển khai nhóm tín dụng này nhưng với tiêu chuẩn của nhóm tín dụng khác… Các ngân hàng nên nhìn lại và sắp xếp lại hệ thống tín dụng của mình chuẩn mực.

Dịch vụ tư vấn tài chính của toàn hệ thống ngân hàng vẫn chưa phát triển và bị bỏ trống một cách đáng ngạc nhiên. Đặc biệt nhóm những ngân hàng có khả năng hướng dẫn thị trường nên nhanh chóng thành lập mới hoặc cải tổ lại những bộ phận đang có để phát triển mảng dịch vụ tư vấn này.

Và yêu cầu chấn chỉnh

Riêng đối với bản thân NHTM, cần nhanh chóng tiến hành triển khai công tác hậu kiểm trên mọi bình diện: sự chính xác của hạch toán kế toán và nội dung chứng từ, thẩm định lại các hồ sơ tín dụng và giá trị tài sản bảo đảm, giá phí và chi phí trong hiệu quả kinh doanh.

Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện cũng như xây dựng mới các văn bản pháp luật trong nước.

Môi trường pháp luật của ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay, còn nhiều sản phẩm – công cụ – tập quán còn khá xa lạ hoặc thấp kém so với trình độ trung bình của cộng đồng WTO.

Đề án xây dựng các luật mới về ngân hàng đã tiến hành từ hơn hai năm nay cần được khẩn trương hoàn chỉnh theo hướng:

- Thông qua một luật NHNN mới, trong đó NHNN cần phải thực sự là một ngân hàng trung ương với đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ có tính khoa học và thực tiễn của nó.

- NHNN triển khai thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn vận hành một cách hữu hiệu để các công cụ chiết khấu, tái chiết khấu, thương phiếu và giấy tờ có giá phát huy tác dụng điều tiết lãi suất ngân hàng, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. NHNN cần giảm thiểu dùng những biện pháp mang tính chất hành chánh như áp đặt mua tín phiếu bắt buộc, quy định trần lãi suất cho vay...

- Hiện nay các quy định pháp luật về thương phiếu chưa đầy đủ, không phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn nền kinh tế nên chưa đi vào cuộc sống. Việc soạn thảo và ban hành một luật hoàn chỉnh và khả thi về thương phiếu là một công tác cấp bách.

- Mặc dù séc (hay chi phiếu) đã được đưa vào sử dụng từ nhiều năm nay, nhưng sau nhiều chỉnh sửa, bổ sung quy định, trên thực tế đến nay vẫn chưa là công cụ thanh toán phổ biến trong hoạt động thương mại và trong dân sự. Nền kinh tế tiền mặt vẫn là căn bệnh mãn tính. Cần xây dựng mới một văn bản pháp lý về séc.

- Trong trường hợp còn kiểm soát ngoại hối như ở nước ta, NHNN phải là chỗ dựa của các NHTM về nguồn cung ngoại tệ cho các nghiệp vụ nhập khẩu hợp lệ. Về mặt này, NHNN nên thông báo rõ ràng để các NHTM an tâm thực hiện các nghiệp vụ liên quan.

K.V tổng hợp (Sài gòn tiếp thị)

In bài viết này Gửi bài viết này cho bạn bè
 
Các tin mới hơn:
Các tin khác:
webmuaban
Kế toán
Vấn đề sử dụng đồng tiền trong quá trình lập và trình bày BCTC tại các DN có các hoạt động ở nước ngoài.Vấn đề sử dụng đồng tiền trong quá trình lập và trình bày BCTC tại các DN có các hoạt động ở nước ngoài.
Cần thống nhất quy định về các khoản dự phòngCần thống nhất quy định về các khoản dự phòng
Thị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam, thực trạng và giải phápThị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Xử lí kế toán trong quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệpXử lí kế toán trong quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp
Báo cáo tài chính và sự thay đổi của giá cảBáo cáo tài chính và sự thay đổi của giá cả
Kiểm toán
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Tổng Kiểm toán nhà nướcThẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Tổng Kiểm toán nhà nước
Một số khó khăn khi kiểm toán các Doanh nghiệp cổ phần hóaMột số khó khăn khi kiểm toán các Doanh nghiệp cổ phần hóa
Xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty kiểm toán Xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty kiểm toán
Kết quả kiểm toán với công tác thẩm tra kinh tế xã hội và ngân sách địa phươngKết quả kiểm toán với công tác thẩm tra kinh tế xã hội và ngân sách địa phương
Giá trị của báo cáo kiểm toánGiá trị của báo cáo kiểm toán
Kế toán quốc tế
Ngân hàng - Tài chính
Nhận biết và tiếp cận công cụ tài chính phái sinhNhận biết và tiếp cận công cụ tài chính phái sinh
Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước gửi tại NHNN- Một giải pháp góp phần kiểm soát lạm phát và hạn chế lãng phí cho NSNNTiền gửi của Kho bạc Nhà nước gửi tại NHNN- Một giải pháp góp phần kiểm soát lạm phát và hạn chế lãng phí cho NSNN
Hoàn thiện cơ sở dữ liệu để phân tích báo cáo tài chính trong chương trình đào tạo chứng chỉ hành nghề chứng khoán.Hoàn thiện cơ sở dữ liệu để phân tích báo cáo tài chính trong chương trình đào tạo chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Thuế - phí
Bộ Tài chính Ban hành Thông tư hướng dẫn về Thuế Thu nhập cá nhânBộ Tài chính Ban hành Thông tư hướng dẫn về Thuế Thu nhập cá nhân
Phương pháp xác định giá tính thuế bất động sản Phương pháp xác định giá tính thuế bất động sản