Đây là nội dung chính của hội thảo “Tự do hoá giao dịch vốn và sự ổn định khu vực tài chính Việt Nam” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Công thương Việt Nam tổ chức cuối tháng 6 vừa qua tại Hà Nội.
Mục đích của hội thảo này là nhằm hình thành một sân chơi bình đẳng trong hoạt động đầu tư tài chính, như: tăng tính linh hoạt và hiệu quả của các luồng vốn luân chuyển, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn, giúp các DN tiếp cận nguồn vốn trong và ngoài nước với chi phí thấp, nâng cao tính tự chủ của nhà đầu tư và khả năng phản ứng của thị trường, góp phần hoàn thiện thể chế để thị trường tài chính phát triển.
Giao dịch vốn (GDV) là những giao dịch liên quan đến chuyển vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, tự do hóa GDV là quá trình dỡ bỏ dần những hạn chế áp dụng cho những giao dịch này. Đối với người dân, tự do hóa GDV cho phép họ thực hiện các hoạt động ở nước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi nhuận cao. Các DN được phép đầu tư và sở hữu những công ty khác, các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang nơi có tỷ suất sinh lợi cao.
Bên cạnh những thuận lợi, tự do hóa GDV cũng tạo ra sự đa dạng hóa các rủi ro phát sinh như: thông qua hoạt động của những khu vực khác trong nền kinh tế, gây khó khăn về quản lý tài sản, nhất là trong việc điều chỉnh tỷ giá, lãi suất, phòng ngừa rủi ro nhằm cân bằng lợi ích giữa việc nắm giữ ngoại tệ và nội tệ cũng như cơ cấu tiền gửi và cho vay.
Thực tế cho thấy, khi các luồng vốn vào quá mức có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế quá nóng, nếu tiền cung ứng tăng quá mức so với tăng trưởng GDP thực tế sẽ làm tăng tổng phương tiện thanh toán (M2), gây áp lực lạm phát và biến động về tỷ giá hối đoái, làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai, nhất là khi sản xuất trong nước phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, làm thay đổi cơ cấu tài trợ và tiềm ẩn rủi ro cán cân thanh toán và tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Vì thế, cần phải có chính sách và biện pháp đối phó thích hợp nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Đặc biệt là, cần xác định rõ liều lượng, lộ trình và thời điểm áp dụng chính sách, trong đó, cần xác định được động cơ và nguyên nhân của luồng vốn vào, cơ cấu luồng vốn, tác động của nó đến nền kinh tế và hệ thống tài chính.
Việt Nam đang thực hiện tự do hóa GDV một cách có trật tự, bắt đầu từ thu hút FDI và mở cửa ngoại thương, nới lỏng kiểm soát lợi nhuận chuyển ra và gần đây các nhà đầu tư được phép mua trái phiếu chính phủ với khối lượng và giá trị không hạn chế, mua 49% cổ phiếu DN và 30% cổ phiếu ngân hàng. Nếu trước năm 2006, nguồn vốn vào chủ yếu là FDI và vay nợ nước ngoài, thì từ cuối năm 2006, vốn đầu tư gián tiếp tăng mạnh. Trong năm 2007 luồng vốn này chiếm tới trên 50% tổng nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam, là yếu tố thúc đẩy đầu tư nhưng do hiệu quả sử dụng vốn thấp nên đã tạo áp lực lạm phát, thâm hụt cán cân vãng lai đã lên tới 10%.
Bên cạnh đó, việc cho phép các ngân hàng được cấp tín dụng bằng ngoại tệ tuy đã tạo điều kiện cho các ngân hàng cân đối được bảng tổng kết tài sản ngoại tệ và hạn chế rủi ro ngoại. Song do cơ chế khuyến khích trong các tổ chức tín dụng lại không gắn liền với mục đích hoạt động, phương pháp quản lý rủi ro tín dụng còn bất cập, năng lực giám sát của NHNN đối với hệ thống tài chính còn hạn chế, nên quá trình tự do hóa GDV đã tác động mạnh tới hoạt động của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là ở Hà Nội đôla chiếm 30% lượng tiền gửi tại các tổ chức tín dụng là ngoại tệ, và ở TP.HCM là 40%.
Theo đánh giá của giới chuyên môn, để thực hiện tốt việc tự do hóa GDV, thì vấn đề ổn định chính sách kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng và là điều kiện tiên quyết, nhất là chính sách tài khóa. Và tự do hóa GDV chỉ có thể thành công nếu đi kèm với nó là cải cách chính sách tài khóa và giảm thâm hụt ngân sách xuống mức thấp nhất theo thông lệ quốc tế, cùng với việc sử dụng chi tiêu chính phủ một cách hiệu quả, duy trì mức lạm phát thấp./.
Phương Ngọc(Báo Kinh tế Việt Nam Online)
|