Bàn về tính khoa học trong các quy định của luật kiểm toán nhà nước - Đơn vị được kiểm toán - Tạp Chí Kế Toán

Bàn về tính khoa học trong các quy định của luật kiểm toán nhà nước – Đơn vị được kiểm toán

Bàn về tính khoa học trong các quy định của luật kiểm toán nhà nước – Đơn vị được kiểm toán
TCKT cập nhật: 22/12/2009

Luật kiểm toán Nhà nước cũng đã dành một chương (Chương
V) quy định về đơn vị được kiểm toán, quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm
toán. Đơn vị được kiểm toán là tất cả các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhà
nước và tổ chức quản lý, sử dụng NSNN, tiền và tài sản Nhà nước.

Luật Kiểm toán Nhà nước đã xác định rõ các đơn vị được
kiểm toán bắt buộc thuộc thẩm quyền kiểm tra tài chính của Nhà nước với tư cách
là chủ sở hữu còn kế hoạch kiểm toán hàng năm của KTNN được thực hiện theo
nguyên tắc chọn mẫu theo yêu cầu quản lý của Nhà nước, yêu cầu giám sát của
Quốc hội, HĐND và phù hợp với năng lực (biên chế, kinh phí) của KTNN trong từng
thời kỳ. Một số đối tượng khác với tính chất không phức tạp và quy mô không
lớn, như đối với các đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp của Nhà nước, các đơn vị có
công nợ được Nhà nước bảo lãnh mà không phải là DNNN thì các đơn vị này có thể
thuê doanh nghiệp kiểm toán kiểm toán nhưng các doanh nghiệp kiểm toán phải
thực hiện theo chuẩn mực, quy trình kiểm toán Nhà nước và gửi báo cáo kiểm toán
cho Kiểm toán Nhà nước.

Theo quy định tại Điều 63 Luật Kiểm toán Nhà nước, các
đơn vị được kiểm toán bao gồm:

1. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ
quan khác ở trung ương.

2. Cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước
các cấp.

3. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan
khác ở địa phương.

4. Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

5. Đơn vị quản lý quỹ dự trữ của Nhà nước, quỹ dự trữ của
các ngành, các cấp, quỹ tài chính khác của Nhà nước.

6. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức
chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp có sử dụng kinh
phí ngân sách Nhà nước.

7. Đơn vị sự nghiệp được ngân sách Nhà nước bảo đảm một
phần hoặc toàn bộ kinh phí.

8. Tổ chức quản lý tài sản quốc gia

9. Ban quản lý dự án đầu tư có nguồn kinh phí ngân sách
Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.

10. Các hội, liên hiệp hội, tổng hội, các tổ chức khác
được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí hd.

11. Doanh nghiệp Nhà nước.

12. Ngoài cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản
từ khoản 1 đến 11 Điều này, đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp của Nhà nước, đơn vị
có công nợ được Nhà nước bảo lãnh mà không phải là doanh nghiệp Nhà nước có thể
thuê doanh nghiệp kiểm toán kiểm toán; doanh nghiệp kiểm toán phải thực hiện
kiểm toán theo chuẩn mực, quy trình kiểm toán Nhà nước và gửi báo cáo kiểm toán
cho Kiểm toán Nhà nước.

Với tư cách là một ban trong quan hệ pháp luật về kiểm
toán Nhà nước, đơn vị được kiểm toán có các quyền và nghĩa vụ nhất định.

Theo quy định tại Điều 64 Luật Kiểm toán Nhà nước, đơn vị
được kiểm toán có các quyền:

– Yêu cầu Đoàn kiểm toán xuất trình quyết định kiểm toán,
kiểm toán viên xuất trình Thẻ kiểm toán viên Nhà nước.

– Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan
đến nội dung kiểm toán; đề nghị thay thế thành viên Đoàn kiểm toán khi có bằng
chứng cho thấy thành viên đó không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Việc quy định đơn vị được kiểm toán có quyền đề nghị thay
thế thành viên Đoàn kiểm toán khi có bằng chứng cho thấy thành viên đó không vô
tư trong khi làm nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn về mặt pháp lý. Đó chính là sự bảo
đảm cho hoạt động của các thành viên Đoàn kiểm toán tuân thủ đúng pháp luật và
bảo đảm yêu cầu của nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật, trung thực, khách quan từ góc độ giám sát của đơn vị được kiểm toán.
Tuy nhiên, đơn vị được kiểm toán  phải
đưa ra được các bằng chứng cho thấy thành viên đó không vô tư trong khi làm
nhiệm vụ; đồng thời người có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh làm rõ.

– Thảo luận, giải trình bằng văn bản về những vấn đề được
nêu trong dự thảo báo cáo kiểm toán nếu xét thấy chưa phù hợp.

– Khiếu nại với Tổng Kiểm toán Nhà nước về hành vi của
Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng tổ kiểm toán và thành viên khác của Đoàn kiểm
toán trong quá trình thực hiện kiểm toán khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là
trái pháp luật; kiến nghị với Tổng Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền về đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị ktp khi có căn cứ cho rằng
đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đó là trái pháp luật.

– Yêu cầu Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán viên Nhà nước bồi
thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại cho đơn vị được kiểm toán theo
quy định của pháp luật.

– Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 65 Luật kiểm toán Nhà nước thì đơn
vị được kiểm toán có các nghĩa vụ:

– Chấp hành quyết định kiểm toán.

– Lập và gửi đầy đủ, kịp thời báo cáo tài chính, báo cáo
quyết toán dự án đầu tư; kế hoạch thu, chi; báo cáo tình hình chấp hành và
quyết toán ngân sách cho Kiểm toán Nhà nước theo yêu cầu.

– Cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu cần
thiết để thực hiện việc kiểm toán theo yêu 
cầu của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán viên nhà nước và phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của thông tin,
tài liệu đã cung cấp.

– Trả lời và giải trình đầy đủ, kịp thời các vấn đề do
Đoàn kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước yêu cầu.

– Người đúng đầu đơn vị được kiểm toán phải ký biên bản
kiểm toán.

– Thực hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị của Kiểm
toán Nhà nước về các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; thực hiện các biện
pháp để khắc phục yếu kém trong hoạt động theo kết luận, kiến nghị của Kiểm
toán Nhà nước; báo cáo bằng văn bản về thực hiện kết luận, kiến nghị đó cho
Kiểm toán Nhà nước.

Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của đơn vị
được kiểm toán, cần lưu ý phân biệt rõ quyền thảo luận, giải trình với quyền
kiến nghị của đơn vị được kiểm toán, trong đó: quyền thảo luận, giải trình được
thực hiện trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán; đối tượng của quyền thảo luận,
giải trình là dự thảo báo cáo kiểm toán; căn cứ thực hiện quyền này là đơn vị
được kiểm toán xét thấy những vấn đề được nêu trong dự thảo báo cáo kiểm toán
là chưa phù hợp; hình thức thực hiện bằng văn bản. Quyền kiến nghị được thực
hiện khi báo cáo kiểm toán đã được phát hành; đối tượng của quyền kiến nghị khi
báo cáo kiểm toán đã được Tổng Kiểm toán 
Nhà nước hoặc người được Tổng Kiểm toán Nhà nước uỷ quyền ký và đã được
gửi đơn vị được kiểm toán; căn cứ thực hiện quyền này là đơn vị được kiểm toán  xét thấy có căn cứ cho rằng đánh giá, xác
nhận, kết luận và kiến nghị đó là trái pháp luật; hình thức thực hiện bằng văn
bản. Khi đơn vị được kiểm toán có kiến nghị về báo cáo kiểm toán, thì trong
thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Tổng Kiểm toán Nhà nước
phải xem xét, giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn này có thể kéo
dài, nhưng không quá bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị. Tuy
nhiên, Luật Kiểm toán nhà nước không quy định trong thời hạn bao nhiêu ngày kể
từ khi nhận được báo cáo kiểm toán, đơn vị được kiểm toán phải thực hiện quyền
này. Để bảo đảm trật tự pháp lý trong hoạt động kiểm toán, cần bổ sung quy định
về thời hạn cho phép đơn vị được kiểm toán thực hiện quyền kiến nghị; đồng thời
quy định đơn vị được kiểm toán có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các bằng chứng để
làm cơ sở cho ý kiến kiến nghị của mình.

Việc các đơn vị được kiểm toán nhận thức được đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của mình là một trong những điều kiện giúp cho hoạt động kiểm
toán nhà nước đạt được hiệu quả cao; đồng thời, tạo tác động tích cực đối với
hoạt động của Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước. Tuy nhiên, các quy
định về quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán trong Luật Kiểm toán nhà
nước cũng còn những hạn chế nhất định cần sớm được khắc phục. Đó là, chưa có
các quy định cụ thể về chế tài đối với các hành vi vi phạm của đơn vị được kiểm
toán trong thực hiện nghĩa vụ theo quy định của luật. Trong hoạt động kiểm toán
cũng như trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào khác, hệ thống pháp luật điều
chỉnh các mối quan hệ phát sinh nhất thiết phải bao gồm các quy định về chế tài
để xử lý các vi phạm của các bên tham gia trong các quan hệ đó. Các quy định về
chế tài có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng để tăng cường pháp chế trong hoạt
động kiểm toán đảm bảo hoạt động kiểm toán diễn ra theo đúng pháp luật. Tuy
nhiên, trong Luật Kiểm toán nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành hầu như
chưa có các quy định về chế tài trong các trường hợp vi phạm của đơn vị được
kiểm toán, các tổ chức và cá nhân có liên quan, trừ một số quy định rất chung
như: “chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước
pháp luật; tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phát vi
phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật…”). Chính do chưa có các quy định về chế tài một cách cụ thể và đầy
đủ cho nên việc chấp hành pháp luật về kiểm toán nhà nước chưa nghiêm. Thực tế,
qua hơn 2 năm thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước, nhiều trường hợp vi phạm về
nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan như: không
cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu; không thực hiện đầy đủ, kịp
thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán; cản trở việc kiểm toán; che dấu các
hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, ngân sách…, song chưa có quy định xử
lý vi phạm đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm toán Nhà nước nói
riêng và tính nghiêm minh của pháp luật nói chung.

Cùng với việc quy định rõ quyền và nghĩa vụ của đơn vị
được kiểm toán, Luật Kiểm toán nhà nước cũng quy định rõ trách nhiệm gửi báo
cáo tài chính, báo cáo quyết toán tại Điều 66 của Luật như sau:

– Kết thúc năm ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I của
ngân sách trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
trách nhiệm gửi báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách do Bộ Tài chính
theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, đồng thời gửi cho Kiểm toán Nhà
nước.

– Bộ Tài chính có trách nhiệm gửi báo cáo quyết toán NSNN cho Kiểm toán Nhà nước chậm nhất là mười bốn
tháng sau khi kết thúc năm ngân sách.

– Kho bạc Nhà nước định kỳ gửi báo cáo thực hiện dự toán
thu, chi ngân sách quý, năm cho Kiểm toán Nhà nước.

Luật Kiểm toán nhà nước cũng quy định rõ trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối với tính
chính xác, trung thực của báo cáo tài chính:

– Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác,
trung thực của các số liệu kế toán và các thông tin của báo cáo tài chính.

– Căn cứ vào các quy định của pháp luật, xây dựng và duy
trì hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và có hiệu quả.

– Tổ chức kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật để
bảo vệ an toàn tài sản; đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của thông tin kinh
tế, chế độ, chính sách của Nhà nước và các nội quy, quy chế của đơn vị.

Chế định kiểm toán nội bộ (khoản 3 Điều 6) là một chế
định mới của Luật Kiểm toán nhà nước. Chế định này đặt ra cho các cơ quan, đơn
vị nhiệm vụ phải thực hiện kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật để đảm
bảo về an toàn tài sản; đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của thông tin kinh
tế, tài chính; việc chấp hành pháp luật, chế độ, chính sách của Nhà nước và các
nội quy, quy chế của đơn vị. Cả ba nội dung của kiểm toán nội bộ là đánh giá
mức độ an toàn và hiệu quả của việc sử dụng tài sản công; đánh giá chất lượng
và độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính; việc chấp hành pháp luật, chế
độ, chính sách của Nhà nước và các nội quy, quy chế của đơn vị đều không phải
hoàn toàn mới mẻ đối với các cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, trước đây do không có quy
định thống nhất nên mỗi cơ quan thực hiện những nội quy kiểm toán này theo cách
thức riêng của mình. Điều này làm cho việc xây dựng các chuẩn mực kiểm toán
chung cũng như đánh giá chất lượng kiểm toán rất khó khăn và gặp nhiều vướng
mắc. Mặt khác, những vấn đề liên quan tới kỹ năng và nghiệp vụ kiểm toán cho
tới nay còn tương đối xa lạ đối với đại đa số các cơ quan, đơn vị trong bộ máy
của Nhà nước. Vì vậy, rất cần có sự hướng dẫn cụ thể, chi tiết để mọi cơ quan
đều thực hiện đúng, đủ và thống nhất việc kiểm toán nội bộ. Để khắc phục những
tồn tại trên đây, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm toán nội bộ,
Luật kiểm toán nhà nước, ngoài việc đưa ra những quy định về kiểm toán nội bộ
tại tất cả các cơ quan sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, cũng còn
quy định rõ nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước tại khoản 15 Điều 15: chỉ đạo và
hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán nội bộ; sử dụng kết quả kiểm toán
nội bộ của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 6 của luật này. Để thực hiện
nhiệm vụ nêu trên, Kiểm toán Nhà nước hướng dẫn việc tổ chức kiểm toán nội bộ
theo quy định của pháp luật tại các cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách, tiền và
tài sản nhà nước; ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán nội bộ; biên soạn và
phát hành sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán nội bộ và thường xuyên tổ chức
bồi dưỡng, tập huấn những vấn đề liên quan tới kỹ năng nghiệp vụ kiểm toán nội
bộ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này tại các cơ quan, tổ chức có quản lý, sử
dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

                                 Theo Đặng Văn Hải – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế KTNN

                                    ( Tạp chí nghiên cứu khoa học kiểm toán )

 

 

Tôi là Quang Hải, là một kế toán 12 năm trong nghề với mong muốn chia sẽ các kiến thức mình biết với các bạn mới vào nghề.